Liên kết website
Số điện thoại đặc biệt
Tên chức năng Số ĐT
Trung tâm Hành chính công 0251. 8824824
Tin tức sự kiện
Hội nghị Tổng kết 03 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020
Cập nhật 17/01/2019 11:20 Xem với cỡ chữ

​         Ngày 11-1, đồng chí Nguyễn Phú Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì Hội nghị Tổng kết 03 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2015-2020.


Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Phú Cường chủ trì Hội nghị

 Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương nỗ lực, quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ chỉ tiêu kinh tế - xã hội; đồng thời tổ chức thực hiện các giải pháp điều hành cụ thể, thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, cải cách hành chính, tái cơ cấu kinh tế, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội, kết quả đạt được chủ yếu như sau:

I. Những kết quả đạt được:

1. Lĩnh vực kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân mỗi năm tăng 8,03% (đạt mục tiêu nghị quyết). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng GRDP ngành công nghiệp - xây dựng, ngành dịch vụ và giảm ngành nông lâm nghiệp (đến năm 2018 tỷ trọng GRDP ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 60%, ngành dịch vụ chiếm 32%, ngành nông lâm nghiệp chiếm 8%). GRDP bình quân đầu người đến năm 2018 đạt 104 triệu đồng tương đương 4.491 USD (dự kiến đạt hoặc vượt mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 đạt từ 5.300-5.800 USD). 

- Sản xuất công nghiệp luôn duy trì mức tăng trưởng ổn định trên 8%/năm và đang có sự chuyển dịch về cơ cấu theo hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ.

- Sản xuất nông nghiệp tuy bị tác động bỡi biến đổi khí hậu và cung cầu thị trường nhưng vẫn phát triển ổn định; đến nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành 25 vùng sản xuất tập trung, trong đó một số sản phẩm (xoài, cà phê, ca cao, tiêu, điều) đang có cơ hội xuất khẩu tốt. Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng được tăng cường, đẩy mạnh trồng rừng, nâng cao chất lượng rừng, đa dạng sinh học và đạt mục tiêu nghị quyết về tỷ lệ che phủ cây xanh, che phủ rừng.

- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển, cung cầu hàng hóa trên thị trường luôn giữ mức ổn định, sức mua dân cư được cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tăng bình quân mỗi năm trên 11% (cả nước 10,2%). Đã hoàn thành đưa vào hoạt động chợ đầu mối nông sản Dầu Giây - giai đoạn 1, đang triển khai các bước chuẩn bị đầu tư xây dựng giai đoạn 2.

Hoạt động ngoại thương đạt kết quả khá ở cả 2 lĩnh vực xuất khẩu và nhập khẩu. Bình quân mỗi năm kim ngạch xuất khẩu tăng 9,5% (đạt mục tiêu nghị quyết); kim ngạch nhập khẩu tăng 7,5%. Trong 3 năm qua, cán cân thương mại của tỉnh liên tục thặng dư, mức xuất siêu hàng năm trên 2 tỷ USD.

- Lĩnh vực xây dựng được quan tâm thực hiện. Đã triển khai quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Biên Hòa đô thị loại I và ban hành nghị quyết về xây dựng và phát triển thành phố Biên Hòa - đô thị loại I giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030; triển khai thực hiện các bước cho việc phát triển các đô thị (thị trấn Hiệp Phước, thị trấn Dầu Giây, thị trấn Trảng Bom, thị trấn Long Thành, thị xã Long Khánh). Đẩy mạnh thực hiện chương trình phát triển nhà ở xã hội. Tích cực thực hiện các biện pháp chống ngập nước ở các đô thị, nhất là ở thành phố Biên Hòa, giảm được nhiều điểm ngập so với đầu nhiệm kỳ. Tiến hành điều chỉnh quy hoạch chung đô thị mới Nhơn Trạch và thực hiện quy hoạch vị trí, quy mô các khu chức năng trong khu vực xung quanh Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, nhất là ở những địa bàn đang chuẩn bị triển khai những dự án lớn; Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp lập lại trật tự đô thị, đặc biệt là xử lý mạnh tình trạng lấn chiếm vỉa hè, xây dựng trái phép.

- Công tác điều hành ngân sách được tập trung chỉ đạo. Do nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước được Chính phủ giao giai đoạn 2016-2018 rất cao (bình quân tăng 14%-21% dự toán thu nội địa so với năm trước), trong khi  tỷ lệ điều tiết thu nội địa đã giảm từ 51% xuống 47%, nên tỉnh gặp nhiều khó khăn trong điều hành ngân sách. Tuy nhiên với sự nỗ lực cao của các cấp các ngành, kết qủa tỷ lệ thu ngân sách trên GRDP 3 năm đạt ở mức 17 - 22% (đạt mục tiêu nghị quyết). Công tác chi được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chi tiết kiệm, chi đúng theo quy định hiện hành.

- Về phát triển các khu, cụm công nghiệp đạt kết quả tốt. Trên địa bàn tỉnh phê duyệt quy hoạch phát triển 35 KCN với tổng diện tích đất quy hoạch trên 12.055 ha, 32 KCN đã được thành lập với tổng diện tích 10.242ha, trong đó 31 KCN đã họat động (các KCN đều có nhà máy xử lý nước thải tập trung và hệ thống quan trắc tự động), cho thuê khoảng 7.886 ha, tỷ lệ 77% diện tích đất. Hầu hết các khu công nghiệp hiện nay cơ bản được đầu tư đồng bộ hạ tầng và công trình dịch vụ; trong đó một số KCN đã đáp ứng yêu cầu kêu gọi đầu tư theo hướng chuyên sâu với các ngành công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Riêng đối với Cụm công nghiệp, tỉnh Đồng Nai giữ quy hoạch 27 cụm công nghiệp với tổng diện tích là 1.519,25 ha, đến nay có 23 cụm đã có chủ đầu tư, thu hút được 198 dự án, cho thuê khoảng 607ha, tỷ lệ 40% diện tích đất; tổ chức triển khai thực hiện đề án hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp nhằm ưu tiên sắp xếp, di dời các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ trong nước đang sản xuất trong các khu đô thị, khu dân cư vào các cụm công nghiệp.

- Công tác đầu tư phát triển có chuyển biến tích cực; tổng vốn đầu tư thực hiện trong 3 năm trên 248 ngàn tỷ đồng (đạt 60% mục tiêu nghị quyết). Đến nay tỉnh đã hoàn thành đưa vào sử dụng 7/11 công trình trọng điểm (dự án cải tạo nâng cấp Tỉnh lộ 25A, dự án nạo vét suối Săn Máu, dự án hạ tầng trung tâm ứng dụng công nghệ sinh học giai đoạn 1, dự án mở rộng trường Cao đẳng Y tế, dự án tuyến đường chống ùn tắc giao thông trên Quốc lộ 1, dự án tuyến thoát nước khu vực ngã 5 Biên Hùng, dự án nút giao thông ngã tư Tân Phong thành phố Biên Hòa); đang tiếp tục triển khai thi công các công trình dự án (hồ chứa nước Gia Măng, dự án đầu tư thí điểm trường học tiên tiến hiện đại tỉnh, các dự án thoát nước, chống ngập tại các khu vực đô thị) và tập trung hoàn chỉnh thủ tục chuẩn bị khởi công thi công dự án tuyến đường kết nối vào cảng Phước An, dự án xây dựng mới cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh. Công tác đầu tư theo chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng giai đoạn 2016-2020 được đẩy mạnh thông qua việc huy động nhiều nguồn vốn đầu tư (vốn ngân sách, vốn doanh nghiệp, vốn vay, vốn ODA).

- Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển. Khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước phát triển mạnh ở tất cả các ngành, lĩnh vực, với trên 10 ngàn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 3 năm với tổng vốn trên 83 ngàn tỷ đồng. Khu vực doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thu hút trên 5,6 tỷ USD (cả nước thu hút khoảng 51,3 tỷ USD).

Lũy kế đến nay trên địa bàn tỉnh có 33.654 doanh nghiệp đăng ký hoạt động với tổng số vốn đăng ký khoảng 228.510 tỷ đồng và 1.387 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 28,5 tỷ USD.

- Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới: lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 133/133 xã đạt chuẩn nông thôn mới (vượt mục tiêu nghị quyết); 17 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, chiếm tỷ lệ 12,7% tổng số xã xây dựng nông thôn mới (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 15%), vừa qua, ngày 09/01/2019, Hội đồng thẩm định Nông thôn mới tỉnh thông qua thêm 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao); 8/11 đơn vị cấp huyện được Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 72,7% (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 80%), còn 03 đơn vị cấp huyện đang được các Bộ, ngành thẩm định đạt chuẩn nông thôn mới.

- Công tác quản lý tài nguyên và môi trường được đặc biệt quan tâm. Tỉnh đã phối hợp với các tỉnh lân cận tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên, bảo vệ môi trường ở các vùng giáp ranh. Tăng cường công tác quản lý đất đai, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra sau giao đất các dự án đầu tư. Tập trung triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến công tác bồi thường dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Trong lĩnh vực môi trường,  tỉnh đã tăng cường kiểm soát các nguồn thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, đầu tư hệ thống quan trắc nước thải tự động các nơi có nguồn thải lớn. Quản lý chặt chẽ việc cấp phép và kiểm tra các tổ chức, cá nhân thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý các loại chất thải trên địa bàn. Thường xuyên giám sát tiến độ đầu tư các hạng mục xử lý chất thải rắn sinh hoạt đảm bảo đưa vào vận hành các công trình xử lý, tái chế để giảm thiểu tỷ lệ chôn lấp. Kết quả đến nay thu gom và xử lý 100% chất thải y tế, chất thải công nghiệp không nguy hại (đạt mục tiêu nghị quyết); 98% chất thải nguy hại và chất thải rắn sinh hoạt (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 100%); trong đó 48% chất thải rắn sinh hoạt là chôn lấp.

- Hoạt động khoa học công nghệ có chuyển biến tích cực và đang là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Đã có sự quan tâm đầu tư phát triển một số hạ tầng khoa học công nghệ trọng điểm như: trung tâm thông tin và thống kê khoa học công nghệ, trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, khu Công nghệ cao công nghệ sinh học Đồng Nai. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ. Tiếp tục thực hiện chương trình hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập giai đoạn 2016-2020.

2. Lĩnh vực văn hóa – xã hội:

- Công tác an sinh xã hội được tích cực thực hiện, nhất là ở các đối tượng người lao động, gia đình chính sách và hộ nghèo; có trên 262 ngàn lao động được giải quyết việc làm, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị đến nay giảm còn 2,4% (đạt mục tiêu nghị quyết). Công tác bảo hiểm được các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến địa phương quan tâm; đến nay toàn tỉnh có trên 2,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trong đó tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 84,5% (mục tiêu nghị quyết là 90%).

Công tác giảm nghèo được tích cực thực hiện; đến nay tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm còn 0,58% (đạt mục tiêu nghị quyết).

- Hoạt động văn hóa có bước phát triển khá, các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc; truyền thống văn hóa vùng đất, con người Đồng Nai được giữ gìn và tiếp tục phát huy; tỷ lệ ấp khu phố đạt tiêu chuẩn ấp khu phố văn hóa trên địa bàn tỉnh đến nay đạt trên 90% (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 trên 95%). Hoạt động giáo dục - đào tạo có chuyển biến, đã triển khai dự án đầu tư trường học tiên tiến hiện đại; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; tập trung giải quyết tình trạng học ca 3 ở thành phố Biên Hòa. Công tác phòng chống dịch bệnh được đặc biệt chú trọng, các chương trình mục tiêu y tế được triển khai thực hiện tốt, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện đồng bộ; đến nay bình quân 1 vạn dân trên địa tỉnh có 8 bác sỹ (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 8,5 bác sỹ), tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo cân nặng giảm còn 8,4% (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 8%), tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo chiều cao còn 23,5% (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 23%), số giường bệnh/ vạn dân đạt 27,9 giường (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 30 giường).

- Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân được chú trọng và tạo sự chuyển biến tích cực. Tập trung thanh tra vào những lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, sai phạm; các nội dung thanh tra gắn với công tác phòng chống tham nhũng lãng phí, thực hành tiết kiệm. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự trong tình hình mới"; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thực hiện đồng bộ các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông, giảm số vụ tai nạn giao thông hàng năm. Công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được quan tâm chỉ đạo.

3. Về các lĩnh vực đột phá:

- Đã tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư các công trình hạ tầng xã hội và dịch vụ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; đặc biệt là các công trình cấp nước sạch phục vụ dân sinh vùng nông thôn và các thiết chế văn hóa phục vụ nhân dân. Kết quả trong 3 năm qua đã hoàn thành đưa vào sử dụng 09 công trình dự án cấp nước sạch với tổng công suất trên 6 ngàn m3/ngày đêm, nâng tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn QC02 tăng từ 60% năm 2016 lên 70% vào năm 2018 (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 80%) và hiện đang có 21 dự án công trình cấp nước đang được các doanh nghiệp đăng ký tham gia đầu tư.

- Quan tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên cơ sở triển khai đồng bộ các giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật có tay nghề cao theo chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế; việc đào tạo lao động kỹ thuật có tay nghề cao đã góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay đạt trên 59% (mục tiêu nghị quyết đến năm 2020 là 65%), trong đó tỷ lệ lao động được đào tạo từ trung cấp nghề trở lên là 24% (đạt mục tiêu nghị quyết).

- Chú trọng phát triển giáo dục mầm non với kết quả hệ thống trường, lớp tăng lên đáng kể, nhất là trường mầm non tư thục (do đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục) góp phần giảm áp lực cho trường công lập và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đến trường của trẻ em (toàn tỉnh hiện có 326 trường mầm non, trong đó trên 69% là trường công lập). Việc tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo viên đã góp phần quan trọng cho việc huy động trẻ dưới 3 tuổi ra lớp và hoàn thành mục tiêu đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ được đổi mới, đảm bảo phát triển toàn diện trẻ em, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.

* Với kết quả đạt được trong 3 năm qua, kinh tế Đồng Nai đạt được những kết quả nổi bật:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Nai trong 3 năm qua tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của cả nước (GDP cả nước bình quân giai đoạn 2016- 2018 đạt 6,57%). Thu nhập bình quân đầu người tỉnh Đồng Nai đến năm 2018 (khoảng 104 triệu đồng) cao hơn 1,7 lần so với thu nhập bình quân đầu người cả nước (khoảng 60 triệu đồng, tương đương 2.587 USD).

- Đồng Nai là một trong 16 tỉnh thành có điều tiết ngân sách về Trung ương, là 01 trong 05 tỉnh đứng đầu cả nước về số thu ngân sách.

- Đồng Nai là một trong các địa phương dẫn đầu về phát triển KCN với 31 khu công nghiệp đang họat động chiếm 10% KCN cả nước (cả nước có 325 KCN), tỷ lệ lấp đầy trên 77% (trung bình cả nước đạt 51%).

- Thu hút đầu tư nước ngoài FDI giai đoạn 2016-2018 thu hút trên 5,6 tỷ USD (cả nước thu hút khoảng 51,3 tỷ USD). Đây là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng các nhà đầu tư vẫn giải ngân vốn và tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Tỉnh quan tâm công tác hỗ trợ doanh nghiệp nên những năm qua số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ngày càng tăng, bình quân mỗi năm có trên 3.000 DN đăng ký thành lập mới.

- Đồng Nai là địa phương đầu tiên trên cả nước hoàn thành chỉ tiêu xây dựng số xã nông thôn mới (133/133 xã). Qua thực hiện Chương trình xây dựng Nông thôn mới, Đồng Nai đã đạt được những kết quả quan trọng, bộ mặt nông thôn có sự chuyển biến tích cực, đổi mới rõ nét, kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển đồng bộ, đời sống của người dân được nâng lên, góp phần đem lại diện mạo mới, sức sống mới cho vùng nông thôn.

- Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh những năm qua đạt mức tăng trưởng cao, từ năm 2015 đến nay tỉnh Đồng Nai liên tục xuất siêu: Năm 2015 xuất siêu 1,3 tỷ USD, 2016 xuất siêu 2 tỷ USD, 2017 xuất siêu 2,2 tỷ USD, 2018 xuất siêu 2,6 tỷ USD ( năm 2018 cả nước xuất siêu 7,2 tỷ USD).

- Có tiến bộ rõ rệt, nổi bật trong công tác cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Việc thành lập, đưa vào hoạt động Trung tâm Hành chính công tỉnh và kiện toàn bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện đã mang lại những kết quả tích cực. Kết quả khảo sát cho thấy trên 96% hồ sơ được giải quyết đúng hạn, trên 99% người dân hài lòng với công tác cải cách hành chính của tỉnh và cả 3 bộ chỉ số: chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh (PAR INDEX), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh đều tăng hạng đáng kể so với năm 2016.

II. Những hạn chế, yếu kém trong 3 năm qua

Kinh tế tăng trưởng nhưng chưa thật sự bền vững, vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định bởi còn nhiều doanh nghiệp năng lực cạnh tranh thấp, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp tuy đúng hướng nhưng chậm. Lĩnh vực nông nghiệp dễ bị tác động trước những diễn biến phức tạp của thời tiết và thị trường. Kết quả huy động vốn đầu tư còn thấp, chưa đáp ứng cho nhu cầu phát triển. Việc thực hiện các thủ tục đầu tư các dự án trong nước, dự án PPP, xã hội hóa đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về các quy định pháp luật. Công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng ở một số địa phương chưa chặt chẽ, chưa xử lý hiệu quả tình trạng phân lô bán nền và xây dựng trái phép. Triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ nhà ở còn chậm. Công tác thu ngân sách ngày càng khó khăn.

Công tác đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục tuy được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; tình trạng học ca 3, lớp có sĩ số học sinh vượt mức quy định chưa được khắc phục triệt để. Chất lượng đào tạo của một số cơ sở đào tạo nghề còn thấp, nhất là các ngành nghề đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao. Đội ngũ lao động kỹ thuật tuy tăng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm chưa chuyển biến mạnh. Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm (sốt xuất huyết, tay chân miệng) khá cao. Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm có mặt chưa đạt yêu cầu, nhất là chưa khắc phục tình trạng nợ bảo hiểm ở các doanh nghiệp trong nhiều năm nay.

Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản ở một số địa phương chưa chặt chẽ, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất công, khai thác cát trái phép .

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn những yếu tố chưa ổn định; tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, gây rối an ninh trật tự còn xảy ra. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có lúc còn chậm.

Việc thực hiện các lĩnh vực đột phá có mặt chưa đạt yêu cầu. Còn không ít hộ dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa chưa có nước sạch sử dụng. Đầu tư thiết chế văn hóa cơ sở ở những khu công nghiệp, những nơi xa khu dân cư còn hạn chế, ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động, chưa đáp ứng được nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Kết quả đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo lao động kỹ thuật, tay nghề cao chưa đáp ứng yêu cầu sự phát triển của tỉnh; thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Phát triển trường, lớp giáo dục mầm non tuy được tập trung đầu tư nhưng chưa đáp ứng nhu cầu gửi trẻ; công tác quản lý giáo dục mầm non ngoài công lập ở một số nơi còn lỏng lẽo.

Phòng THQH





TIN ĐÃ ĐƯA
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ - ĐỒNG NAI

Giấy phép số: 160/GP-BC do Cục báo chí Bộ VHTT cấp ngày 15/6/2006.
Chịu trách nhiệm chính: Thạc sĩ Hồ Văn Hà - Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: số 2 Nguyễn Văn Trị - Thanh Bình - Biên Hoà - Đồng Nai
ĐT: 0251.3822505 - Fax: 0251.3941718. - Email: skhdt@dongnai.gov.vn