Liên kết website
Số điện thoại đặc biệt
Tên chức năng Số ĐT
Trung tâm Hành chính công 0251. 8824824
Tổng đài 10220251.1022
Phổ biến giáo dục pháp luật
Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cập nhật 04/06/2018 15:39 Xem với cỡ chữ

Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

1.       Một số khái niệm cơ bản

1.1.         Khái niệm tham nhũng

Khoản 2 Điều 1 Luật quy định về khái niệm tham nhũng: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Như vậy, tham nhũng được mô tả dưới dạng hành vi, bao gồm ba yếu tố: (i) hành vi này được thực hiện bởi một đối tượng đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn; (ii) người có chức vụ, quyền hạn đã có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao; (iii) hành vi này được thực hiện với động cơ vụ lợi. Trong khi đó, yếu tố vụ lợi được hiểu không chỉ là vụ lợi cho cá nhân mình mà còn có thể là vụ lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình hoặc tổ chức, cá nhân khác. Lợi ích được hướng tới ở đây không chỉ là lợi ích về vật chất mà có thể là cả lợi ích về tinh thần. Lợi ích đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Được coi là hành vi tham nhũng nếu có đủ cả 3 yếu tố, nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì vẫn không là tham nhũng, nhưng có thể là một hành vi vi phạm pháp luật khác (ví dụ: hành vi cố ý làm trái, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 Luật PCTN, bao gồm 12 hành vi sau đây:

1.Tham ô tài sản (Đ278-TN).

2. Nhận hối lộ (Đ279-TN).

3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Đ280-TN).

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Đ281-TN).

5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Đ282-TN).

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Đ283-TN).

7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi (Đ-284-TN).

8. Đưa hối lộ (Đ289-CV khác), môi giới hối lộ (Đ-290-CV khác) được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của CQ, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của NN vì vụ lợi.

10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

v  Trong 12 hành vi trên, hành vi thứ nhất đến hành vi thứ bảy đã được  quy định tại Chương XXI, Mục A, Phần các tội phạm về tham nhũng của Bộ Luật Hình sự. Do đó, tại Điều 2 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng (sau đây gọi chung là Nghị định số 59/2013/NĐ-CP) đã quy định dẫn chiếu “Các hành vi tham nhũng được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng được xác định theo quy định tại Bộ Luật Hình sự năm 1999. Theo đó, bảy hành vi tham nhũng này được quy định tại Bộ Luật Hình sự bao gồm:

- Hành vi tham ô tài sản (Điều 278): là hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

- Hành vi nhận hối lộ (Điều 279): Là hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào.

- Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280): là hành vi của người lạm đụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng.

- Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Điều 281): là hành vi của người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

- Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283): là hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm.

- Hành vi lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi (Điều 282): Là hành vi của người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

- Hành vi giả mạo trong công tác vì vụ lợi (Điều 284): là hành vi của người vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây: (1) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; (2) Làm, cấp giấy tờ giả; (3) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội Khóa 13 kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, được Chủ tịch nước công bố vào ngày 18/12/2015. Tại mục 1, Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội phạm tham nhũng, gồm 7 Điều luật, từ Điều 352 đến Điều 359. So với Bộ luật hình sự năm 1999, các tội phạm về chức vụ của Bộ luật hình sự năm 2015 không thay đổi về kết cấu nhưng các điều luật này đều được sửa đổi, bổ sung, hai nội dung cơ bản sau:

Trước hết, Bộ luật hình sự Việt Nam đã bổ sung khái niệm tội phạm về tham nhũng với nội hàm rộng hơn, bao gồm cả các tội phạm tham nhũng trong khu vực tư, cụ thể đã bổ sung khái niệm các tội phạm tham nhũng;

Thứ hai, mở rộng đối tượng tác động của các tội phạm về tham nhũng không chỉ là lợi ích vật chất mà bao gồm cả lợi ích tinh thần.

v  Hành vi tham nhũng xác định trong Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng.

Điều 3 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định cụ thể về 5 hành vi tham nhũng còn lại (hành vi thứ 8 đến hành vi thứ 12 tại Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng) như sau:

- Về hành vi “Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”. Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Nhưng hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm) vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng.

   -  Loại hành vi tham nhũng này bao gồm những hành vi sau đây:

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận cơ chế, chính sách có lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được ưu tiên trong việc cấp ngân sách cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được giao, phê duyệt dự án cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận danh hiệu thi đua, danh hiệu vinh dự nhà nước đối với tập thể và cá nhân;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được cấp, duyệt các chỉ tiêu về tổ chức, biên chế nhà nước cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để không bị kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán hoặc để làm sai lệch kết quả kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán;

+ Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được nhận các lợi ích khác cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.

 - Về hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi”. Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ôtô và các tài sản khác để lấy tiền chia nhau, nhiều khi là một số lượng rất lớn và tình trạng này có ở hầu hết các cấp, từ trung ương đến địa phương và cần phải ngăn chặn kịp thời.

   -  Loại hành vi tham nhũng này bao gồm những hành vi sau đây:

+ Sử dụng tài sản của Nhà nước vào việc riêng;

+ Cho thuê tài sản của Nhà nước, cho mượn tài sản của Nhà nước trái quy định của pháp luật;

+ Sử dụng tài sản của Nhà nước vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

- Về hành vi “Nhũng nhiễu vì vụ lợi”.

+ Nhũng nhiễu vì vụ lợi là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhằm đòi hỏi, ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải nộp những khoản chi phí ngoài quy định hoặc phải thực hiện hành vi khác vì lợi ích của người có hành vi những nhiều.

+ Thực chất của hành vi này là sự ép buộc đưa hối lộ được che đậy dưới hình thức tinh vi rất khó có căn cứ để xử lý. Cũng có thể coi hành vi nhũng nhiễu là hành vi “đòi hối lộ” một cách gián tiếp hoặc ở mức độ chưa thật nghiêm trọng và có thể dùng biện pháp xử lý hành chính.

- Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

+ Đây là hành vi cố ý không thực hiện trách nhiệm mà pháp luật quy định cho mình để triển khai nhiệm vụ, công vụ được giao hoặc không thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn liên quan đến nhiệm vụ, công vụ của mình vì vụ lợi.

+ Hành vi này là hành vi thường được gọi là “bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt là một số người làm việc tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậm chí tiếp tay cho các hành vi vi phạm để từ đó nhận “lương” của những kẻ phạm pháp.

- Về hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”.

Hành vi tham nhũng luôn được che chắn thậm chí là đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Việc bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng nhiều khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền…

Loại hành vi này gồm những hành vi say đây:

+ Sử dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc giúp giảm nhẹ mức độ vi phạm pháp luật của người khác;

+ Sử dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình để gây khó khăn cho việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc làm sai lệch kết quả các hoạt động trên.

1.2.  Người có chức vụ, quyền hạn

Về những đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn, Khoản 3 Điều 1 quy định: “a) Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.

Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn:

- Nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể trong Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức. Đây là nhóm đối tượng chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong số người có chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tượng thường nắm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi tham nhũng nên cần được thể chế hoá và giám sát chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.

- Những người có chức vụ, quyền hạn nêu tại điểm b là nhóm đối tượng có địa vị pháp lý tương đối đặc thù, thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân và được quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và Luật Công an nhân dân.

-  Nhóm đối tượng thứ ba nêu tại điểm c có thể được chia thành hai loại: những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp. 

- Những người có chức vụ, quyền hạn quy định tại Điểm d) cũng đã được quy định là người có chức vụ, quyền hạn tại Phần các tội phạm về chức vụ, Bộ luật Hình sự. Theo đó, bên cạnh đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước, những người tuy không phải là cán bộ, công chức nhưng được giao nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó cũng được coi là người có chức vụ, quyền hạn và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống tham nhũng.    

2. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng

2.1. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Mục 1 Chương II )

          Ý nghĩa:

- Đây là biện pháp quan trọng nhất trong tổng thể các biện pháp về phòng ngừa tham nhũng.

- Hướng tới việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức thực thi nghiêm chỉnh công vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đòi hỏi cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật, làm cho các cán bộ, công chức có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định.

- Công khai, minh bạch tạo điều kiện để người dân cũng như xã hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai, minh bạch hoá hoạt động các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật.

- Qua đó, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách với mục đích tư lợi có thể bị phát hiện và xử lý.

2.1.1. Quy định về nguyên tắc, nội dung và cơ chế bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

v Về nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ” (Khoản 1 Điều 11 ). Với nguyên tắc này, có thể thấy việc thực hiện công khai, minh bạch phải được bảo đảm trong tất cả các giai đoạn từ quá trình soạn thảo đến thẩm định, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật.

v Về nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ” (Khoản 2 Điều 11). Luật phòng, chống tham nhũng đã đưa vấn đề công khai, minh bạch trở thành một nguyên tắc chung cho hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Phạm vi công khai rất rộng, không chỉ trong thủ tục hành chính liên quan đến việc thực thi quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức. Mà quy định mở rộng phạm vi về các lĩnh vực phải công khai nhằm thực hiện hiện quyền giám sát của nhân dân vào quản lý nhà nước. Theo đó:

-  Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có thể không công khai những nội dung được coi là bí mật nhà nước và không được viện lý do nào khác để từ chối việc công khai hoạt động của mình nhằm tránh sự giám sát của người dân và xã hội.

-  Danh mục bí mật nhà nước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước không được bao gồm những nội dung bắt buộc phải công khai đã được quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng. Bộ Công an và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch của Luật phòng, chống tham nhũng trong việc lập, ban hành các danh mục bí mật nhà nước (Điều 4 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP).

v Các hình thức công khai: Luật quy định các hình thức công khai bắt buộc mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải lựa chọn khi pháp luật không có quy định về hình thức công khai. Quy định này hướng tới việc tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận thông tin vê công khai, minh bạch trong hoạt động cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đó là cơ sở để người dân thực hiện quyền giám sát thiết thực hơn. Theo đó, Luật PCTN quy định:

  - Hình thức công khai bắt buộc, gồm: niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa lên trang thông tin điện tử. Đây được coi là những hình thức công khai hữu hiệu để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ phát hiện, cung cấp thông tin, tố cáo tham nhũng.v.v.Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần vào việc thi hành, cũng cố niềm tin của dân vào một nhà nước dân chủ, vào đội ngũ cán bộ, công chức có trách nhiệm cao trong thực thi công vụ.

        - Lựa chọn thêm hình thức công khai: Cùng với các hình thức công khai bắt buộc, Luật cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể lựa chọn thêm hình thức công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Quy định này nhằm đáp ứng một nền hành chính công khai minh bạch, đảm bảo sự đa dạng, phong phú, cởi mở về mặt thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thông tin được công khai, minh bạch chính thể hiện được quyền tiếp cận thông tin nhanh chóng, đầy đủ của nhân dân. Qua đó, tạo điều kiện cho việc giám sát của nhân dân với hoạt động công quyền hiệu quả, tạo niềm tin cho nhân dân trong hoạt động công quyền.

        - Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo việc áp dụng hình thức công khai và chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm các quy định về áp dụng hình thức công khai theo quy định của pháp luật (Nghị định số 59/2013/NĐ-CP) .

v  Lĩnh vực, hoạt động công khai, minh bạch

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 đã bổ sung một số lĩnh vực, hoạt động cần phải công khai (lĩnh vực văn hóa, thông tin truyền thông; nông nghiệp và phát triển nông thôn; thực hiện chính sách an sinh xã hội; thực hiện chính sách dân tộc) và sửa đổi, bổ sung một số quy định về công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực, hoạt động (quản lý dự án đầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; quản lý doanh nghiệp nhà nước; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; lĩnh vực tài nguyên và môi trường; lĩnh vực giáo dục; trong công tác tổ chức cán bộ). Nhóm lĩnh vực quản lý nhà nước phải thực hiện công khai minh bạch được quy định từ Điều (13 – 30) Luật PCTN.

- Trong những năm qua, đây là lĩnh vực đã và đang có nguy cơ tham nhũng nhiều nhất, vì có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước, hoặc liên quan đến việc sử dụng quyền lực nhà nước để tham nhũng. Và hành vi tham nhũng trong các lĩnh vực này ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, tới quyền công dân.

           2.1.2. Nội dung của các lĩnh vực hoạt động công khai, minh bạch

Luật PCTN và NĐ số: 59/NĐ-CP/2013 quy định 23 nội dung cần công khai, minh bạch trong các lĩnh vực quản lý nhà nước phải thực hiện công khai minh bạch được quy định có ý nghĩa phòng ngừa quan trọng như: (1) giúp cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kiểm soát được người có chức vụ, quyền hạn - những người có cơ hội tham nhũng; (2) là căn cứ xử lý hành vi tham nhũng (nếu có); (3) tạo cơ sở pháp lý cho người dân tham gia vào quản lý nhà nước thông qua việc theo dõi, giám sát sự công khai, minh bạch này, để từ đó phát hiện hành vi tham nhũng và cung cấp thông tin, tố cáo người thực hiện hành vi tham nhũng; (4) tạo cho người dân ngày có nhiều cơ hội hơn, thực quyền hơn trong việc thụ hưởng những lợi ích từ hoạt động trong các lĩnh vực trên mang đến. Theo đó, những lĩnh vực cần công khai bao gồm:

        - Đầu tư công: mua sắm công và xây dựng cơ bản (Điều 13); quản lý dự án đầu tư xây dựng (Điều 14);

- Quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước: tài chính và ngân sách nhà nước (Điều 15); huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân (Điều 16); quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ (Điều 17);

- Quản lý các doanh nghiệp có vốn Nhà nước: quản lý doanh nghiệp nhà nước (Điều 18); cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (Điều 19); kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước (Điều 20);

- Lĩnh vực Tài nguyên và môi trường (Điều 21); quản lý và sử dụng nhà ở (Điều 22);

- Lĩnh vực giáo dục (Điều 23);

- Lĩnh vực y tế (Điều 24);

- Lĩnh vực khoa học - công nghệ (Điều 25);

- Lĩnh vực thể dục, thể thao (Điều 26);

- Lĩnh vực văn hoá thông tin, truyền thông (Điều 26a: được bố sung năm 2012) ;

- Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn (Điều 26b: được bổ sung năm 2012) ;

- Chính sách an sinh xã hội, chính sách dân tộc (Điều 26c, Điều 26d: được bổ sung năm 2012) ;

- Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước (Điều 27);

- Giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân: nhà đất, xây dựng, đăng ký kinh doanh, xét duyệt dự án, cấp vốn ngân sách, tín dụng, ngân hàng, xuất khẩu, nhập khẩu, nhập cảnh, quản lý hộ khẩu, thuế, hải quan, bảo hiểm và một số lĩnh vực khác (Điều 28);

- Lĩnh vực tư pháp (Điều 29) ;

- Công tác tổ chức cán bộ (Điều 30).

Ngoài ra Luật cũng quy định hằng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương và Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng phải được công khai (Điều 33). Quy định này đảm bảo được quyền được thông tin, quyền giám sát của nhân dân đối với các hoạt động trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng.

Trên thực tế cho thấy đây là những lĩnh vực rất quan trọng, ảnh hưởng lớn về lợi ích chính trị, xã hội,  đã từng xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, gây thiệt hại lớn cho tài sản nhà nước, gây khó khăn phiền hà cho người dân, cho doanh nghiệp. Do vậy, nhất thiết phải được công khai, minh bạch hóa để phòng ngừa tham nhũng. Ví dụ, hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước; trong quản lý và sử dụng đất đai; công khai trong lĩnh vực tư pháp...Người chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất từ việc thiếu hay không công khai, minh bạch trong các lĩnh vực chính là người dân, bởi sự không công khai minh bạch ấy lảm ảnh hưởng, thâm chí xâm hại đến quyền thực hiện quyền của họ.

        2.1.3. Cơ chế bảo đảm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

- Để tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật đã quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức (Điều 31); quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân (Điều 32); trách nhiệm giải trình (Điều 32a).

- Nghị định số 59/2013/NĐ-CP,  quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Điều 8 như sau: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo việc cung cấp thông tin; chịu trách nhiệm về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Nghị định này và các quy định khác của pháp luật. Tại Điều 11 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt quy định về việc cung cấp thông tin, đặc biệt coi việc cung cấp thông tin trái pháp luật như là một hành vi vi phạm có thể bị khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều 12 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP cũng quy định các biện pháp xử lý đối với người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin cũng như người có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật.

2.2.  Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn (Mục 2 Chương II).

          Ý nghĩa:

        - Chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý luôn liên quan đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước. Việc thực hiện một cách tùy tiện và trái phép các tiêu chuẩn, chế độ, định mức đó sẽ dẫn đến việc tài sản của Nhà nước bị thất thoát, tiền bạc hoặc những lợi ích vật chất rơi vào một số ít người. Đây chính là hành vi tham nhũng cần ngăn chặn.

        - Thông thường có hai loại tiêu chuẩn, chế độ, định mức bị vi phạm liên quan đến tham nhũng: Một là, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn về lợi ích, nhất là các chế độ đối với người có chức vụ lãnh đạo, quản lý, chẳng hạn: chế độ phục vụ, chế độ dùng xe công, tiêu chuẩn dùng điện thoại… Hai là, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn có tính chất chuyên môn - kỹ thuật. Đó là những quy định để bảo đảm chất lượng các công trình hoặc công việc nào đó, với những yêu cầu chính xác cao về kỹ thuật, về quy trình thực hiện, về thời gian, về nguyên vật liệu.

- Luật phòng, chống tham nhũng đã có các quy định nhằm bảo đảm việc xây dựng, thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn cũng như trách nhiệm pháp lý trong trưởng hợp để xảy ra vi phạm, cụ thể:

2.2.1. Xây dựng, ban hành và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn( Điều 34)

Luật PCTN quy định khá cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức chính trị, chính trị -  xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan tổ chức, đơn vị khác trong việc xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn cũng như việc công khai và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định này.Theo đó:

- Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; Công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định trên hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

2.2.2. Kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn (Điều 35)

        Đồng thời Luật PCTN quy định việc kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm các quy định chế độ định mức, tiêu chuẩn. Thực tế cũng đã chứng minh hành vi thực hiện tùy tiện hoặc sai trái về tiêu chuẩn chế độ, định mức là hiện tượng khá phổ biến, gây sự bất bình, mất lòng tin của nhân dân. Do vậy, tài sản nhà nước bị thất thóat, sử dụng không công bằng. Quy định này nhằm hạn chế và xử lý nghiêm minh hành vi xa hoa, lãng phí cũng như hành vi tham nhũng của người có chức vụ quyền hạn. Theo đó:

- Nội dung kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn  quy định cụ thể tại Điều 35 Luật PCTN, quy định này cho thấy:

+ Người cho phép sử dụng hoặc thực hiện trái chế độ, định mức, tiêu chuẩn và người sử dụng, hưởng lợi từ việc sử dụng, thực hiện sai trái đó đều phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.

+ Để đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền, Luật quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về người cho phép sử dụng hoặc thực hiện sai trái mặc dù có thể người này không trực tiếp sử dụng hoặc hưởng lợi. Người được hưởng lợi phải liên đới bồi thường.

- Nhằm bảo đảm tính khả thi quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn, Điều 61 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định về hành vi của một số người liên quan đến việc thực hiện sai chế độ, định mức, tiêu chuẩn để làm cơ sở phân định trách nhiệm của họ khi có vi phạm.

        2.3. Quy tắc ứng, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Mục 3 Chương II: Điều 36 – Điều 43).

Ý nghĩa: Với mục đích xây dựng một khuôn khổ pháp lý căn bản cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng, Luật PCTN thể hiện một tinh thần nhất quán trong việc xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân mà trước hết thuộc trách nhiệm của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Mặc dù là một văn bản pháp lý quy định khá toàn diện nhưng nhìn chung các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn tập trung vào đối tượng là những người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền. Những biện pháp này khá đa dạng và tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau. Để chống tham nhũng, không có cách gì tốt hơn là:

- Tăng cường kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, cụ thể là tác động vào đội ngũ cán bộ, công chức và quá trình thực hiện công vụ.

- Ngoài ra, trong chừng mực nào đó, cần kiểm soát cả những quan hệ xã hội của họ, những quan hệ có nguy cơ bị lợi dụng và nảy sinh tham nhũng.

        2.3.1. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

          Luật PCTN đã đưa ra nhiều quy định có liên quan trực tiếp để bảo vệ quyền công dân, bao gồm:

a) Khái niệm quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức (Điều 36)

Khoản 1, Điều 36 Luật PCTN quy định: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức”. Khoản 2, Điều 36 Luật PCTN quy định: “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành”.

        b) Những việc cán bộ, công chức không được làm:

- Những điều cấm tập trung vào việc ngăn ngừa các hành vi có thể dẫn đến tham nhũng trong quá trình thi hành chức trách nhiệm vụ của cán bộ công chức và được quy định tại Điều 37 luật PCTN[1]. Đây là một quy định hết sức quan trọng và cần thiết cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay.

+ Một trong những hành vi tham nhũng phổ biến nhất, tinh vi, phức tạp và gây thiệt hại nhiều nhất là hành vi cấu kết giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của người thân để “tuồn” hợp đồng, quan hệ làm ăn, thị phần của doanh nghiệp nhà nước ra ngoài hoặc để nhận thầu của doanh quyền nhà nước một cách không minh bạch. Quy định nói trên có tác dụng ngăn ngừa ngay từ đầu những hành vi nói trên.

+ Tạo điều kiện cho người dân thực hiện  các quyền và nghĩa vụ của mình, tránh khỏi sự nhũng nhiễu, phiền hà từ phía cán bộ, công chức. Đồng thời quy định này giúp người dân tránh khỏi tâm lý e dè, sợ sệt (và có cả bất mãn) khi rơi vào tâm trạng: “đến cơ quan nhà nước như vào cửa quan thời phong kiến”.

c) Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

Hiện nay có biểu hiện né tránh nể nang, né tránh, không có phản ứng gì trước những biểu hiện tiêu cực tham nhũng. Để khắc phục điều này luật quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng. Luật cũng quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức biết được hành vi tham nhũng mà không báo cáo và người nhận được báo cáo về hành vi, dấu hiệu tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Cụ thể:

-  Nghĩa vụ báo cáo về dấu hiệu tham nhũng: Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến dấu hiệu tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp.

-  Nghĩa vụ xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng: Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo cho người báo cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày; trường hợp cần thiết thì quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo.

- Trong trường hợp, cán bộ, công chức không thực hiện nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, luật quy định rõ trách nhiệm như sau: Cán bộ, công chức, viên chức biết được hành vi tham nhũng mà không báo cáo, người nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (Điều 39).

d) Quy định về tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức

Điều 40 Luật phòng, chống tham nhũng quy định một số nguyên tắc chung nhất để ngăn ngừa việc lợi dụng tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ:

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;

- Nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi;

Việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

đ)Về thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

- Trên cơ sở các quy tắc ứng xử chung do Luật phòng, chống tham nhũng và một số văn bản có liên quan đặt ra, các cơ quan có thẩm quyền ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng cho ngành, cơ quan mình.

- Tại Điều 41 Luật PCTN quy định thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức.

2.3.2. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp (Điều 42)

a)Khái niệm quy tắc đạo đức nghề nghiệp

        Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề. Đây là vấn đề được người dân rất ít quan tâm khi tiếp xúc với công quyền. Và đây chính là cơ sở đầu tiên để người dân đánh giá tính ưu việt của chế độ, sự tận tâm của cán bộ, công chức, viên chức, là tiêu chí đầu tiên để người dân đánh giá phẩm chất, năng lực của “công bộc của dân”.

b)Cách thức ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Tổ chức xã hội - nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật.

        Với quy định tương đối rõ ràng, nhất quán về quy tắc nghền nghiệp, Luật PCTN quy định: “quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề”.

2.3.3. Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức (Điều 43).

- Không phải mọi vị trí công tác đều cần chuyển đổi mà chỉ có những vị trí công tác có liên quan thường xuyên đến việc quản lý và sử dụng tiền, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc và trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp thì mới cần chuyển đổi.

- Nhằm hướng dẫn, quy định chi tiết về quy định chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức.

2.4. Minh bạch tài sản, thu nhập của cản bộ, công chức (Điều 44 – Điều 53)

Ý nghĩa: Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức luôn là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu nhất. Mục đích của việc kê khai tài sản, thu nhập là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản, thu nhập của người đó; phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng.

2.4.1. Nghĩa vụ kê khai tài sản (Điều 44)

a) Đối tượng phải kê khai tài sản

- Đối tượng phải kê khai tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật PCTN. Có thể phân biệt người có nghĩa vụ kê khai tài sản thành hai loại:

Thứ nhất, một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức. Luật không quy định toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức phải kê khai tài sản mà chỉ cán bộ từ phó trưởng phòng cấp huyện và tương đương trở lên, một số chức danh ở cơ sở và người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản nhà nước và tiếp xúc trực tiếp và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức và cá nhân. 

Thứ hai, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Những người này có thể là cán bộ, công chức hoặc không và được điều chỉnh bởi pháp luật về Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

- Để cụ thể hóa đối tượng phải kê khai, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập đã quy định chi tiết về người có nghĩa vụ kê khai. Nghị định đã quy định đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập bao gồm cán bộ, công chức giữ chức vụ có phụ cấp trách nhiệm tương đương phó trưởng phòng cấp huyện trở lên, một số công chức, viên chức, người lao động thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp.

b) Phạm vi, trách nhiệm kê khai tài sản

- Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai.  

- Có hai nội dung mà người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai là: tài sản và mọi biến động về tài sản.  

        2.4.2. Các loại tài sản phải kê khai (Điều 45)

Các loại tài sản phải kê khai được quy định tại Điều 45

- Nhà, quyền sử dụng đất;

- Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên;

- Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

- Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật.

Để tránh việc kê khai mang tính hình thức, kê khai không đầy đủ, Điều 8 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP đã quy định cụ thể về tài sản, thu nhập phải kê khai, bao gồm:

- Các loại nhà, công trình xây dựng (Nhà, công trình xây dựng khác đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu; Nhà, công trình xây dựng khác chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên người khác; Nhà, công trình xây dựng khác đang thuê hoặc đang sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước);

- Các quyền sử dụng đất (Quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng; Quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên người khác);

- Tiền mặt, tiền cho vay, tiền gửi các cá nhân, tổ chức trong nước, nước ngoài mà giá trị mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên;

- Tài sản ở nước ngoài;

- Ô tô, mô tô, xe máy, tầu, thuyền và những động sản khác mà Nhà nước quản lý (theo quy định của pháp luật phải đăng ký sử dụng và được cấp giấy đăng ký) có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên;

- Kim loại quý, đá quý, cổ phiếu, các loại giấy tờ có giá trị chuyển nhượng khác có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên;

- Các khoản nợ phải trả có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên;

- Tổng thu nhập trong năm.

         2.4.3. Thủ tục kê khai tài sản

Điều 46 Luật quy định về thủ tục kê khai tài sản.

- Việc kê khai tài sản được thực hiện hằng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai làm việc và được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12;

- Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó;

- Bản kê khai tài sản được nộp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

Tại Điều 9 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP bổ sung thêm quy định kê khai hàng năm, như sau:

- Hàng năm, chậm nhất là ngày 30 tháng 11, đơn vị, bộ phận phụ trách công tác tổ chức, cán bộ lập danh sách Người có nghĩa vụ kê khai trình người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phê duyệt; gửi mẫu Bản kê khai, hướng dẫn và yêu cầu Người có nghĩa vụ kê khai thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được mẫu Bản kê khai, việc kê khai phải được hoàn thành và nộp về cho đơn vị, bộ phận phụ trách công tác tổ chức, cán bộ.

- Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Bản kê khai, đơn vị, bộ phận phụ trách công tác tổ chức cán bộ kiểm tra tính đầy đủ các nội dung phải kê khai; trường hợp Bản kê khai chưa đúng quy định (theo mẫu) thì yêu cầu kê khai lại, thời hạn kê khai lại là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Đơn vị, bộ phận phụ trách công tác tổ chức cán bộ lưu bản chính hoặc bản sao theo thẩm quyền, gửi 01 bản sao đến cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi sẽ công khai Bản kê khai để thực hiện việc công khai theo quy định.

- Việc kê khai tài sản, thu nhập phải hoàn thành chậm nhất là ngày 31 tháng 12 hằng năm.

        2.4.4. Công khai bản kê khai tài sản

- Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập, Luật đã được bổ sung quy định về công khai bản kê khai tài sản (Điều 46a).

- Theo đó, bản kê khai tài sản phải được công khai tại nơi thường xuyên làm việc của người có nghĩa vụ kê khai. Người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định việc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thời điểm công khai được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 3 hằng năm. Trong trường hợp niêm yết, thì thời gian tối thiểu là 30 ngày liên tục. Luật cũng bổ sung quy định bản kê khai tài sản của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công khai tại hội nghị cử tri nơi công tác của người đó; bản kê khai tài sản của người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp.

- Điều 13 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP bổ sung quy định về công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê  khai bằng một trong hai hình thức: công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trường hợp niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức đơn vị thì thời gian niêm yết tối thiểu là 30 ngày liên tục. Vị trí niêm yết phải đảm bảo an toàn, đủ điều kiện để mọi người trong cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể xem Ban kê khai tài sản. 

2.4.5. Nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 đã bổ sung Điều 46b về nghĩa vụ giải trình tài sản tăng thêm. Để bảo đảm tính minh bạch và hợp pháp của tài sản, Theo đó, Luật quy định, trong bản kê khai tài sản, người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về nguồn gốc phần tài sản tăng thêm bên cạnh việc làm rõ mọi biến động về tài sản của mình có trong kỳ kê khai. Như vậy, người kê khai tài sản có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm thuộc sở hữu của mình và thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thanh niên. Đồng thời, Luật đã giao Chính phủ quy định mức giá trị tài sản tăng thêm, việc xác định giá trị tài sản tăng thêm, thẩm quyền yêu cầu giải trình, trách nhiệm của người giải trình và trình tự, thủ tục của việc giải trình.

        Để cụ thể hóa nội dung này, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP quy định người có nghĩa vụ kê khai phải tự giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm ngay khi kê khai tài sản theo Mẫu Bản kê khai tài sản, thu nhập và khi có yêu cầu của người có thẩm quyền; người kê khai tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, trung thực, kịp thời của những thông tin về nguồn gốc tài sản tăng thêm.

        2.4.6.  Về yêu cầu giải trình việc kê khai tài sản, thu nhập

Luật đã xác định các căn cứ để xác minh tài sản, thu nhập; quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền có quyền yêu cầu người dự kiến được xác minh phải giải trình rõ việc kê khai tài sản, thu nhập của mình. Nghị định số 78/2013/NĐ-CP quy định nội dung giải trình sẽ là căn cứ để kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập hoặc là căn cứ quan trọng để định hướng nội dung xác minh. Trường hợp xét thấy nội dung giải trình của người dự kiến được xác minh đã rõ, có đủ căn cứ để kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập thì người có thẩm quyền ban hành ngay kết luận mà không nhất thiết phải ban hành quyết định xác minh. Trong trường hợp người dự kiến được xác minh giải trình không đủ rõ, thiếu logic, bất hợp lý thì người có thẩm quyền ban hành quyết định xác minh tài sản, thu nhập.

        2.4.7. Xác minh tài sản và thủ tục xác minh tài sản

a) Xác minh tài sản (Điều 47)

Nội dung xác minh tài sản: tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng, đúng thời hạn của những thông tin về số lượng, giá trị các loại tài sản, các khoản thu nhập, mô tả về tài sản, thu nhập, biến động tài sản, việc giải trình về biến động tài sản, nguồn gốc tài sản tăng thêm và những nội dung khác có liên quan trong Bản kê khai của người được xác minh.

 Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xác minh tài sản là người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ kê khai tài sản.

Điều 18 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP quy định chi tiết về cơ quan, đơn vị xác minh tài sản, thu nhập tùy từng trường hợp người được xác minh do cấp ủy đảng quản lý hay không thuộc diện cấp ủy quản lý:

* Trong trường hợp người được xác minh do cấp ủy đảng quản lý thì cơ quan có thẩm quyền xác minh là cơ quan Kiểm tra đảng cùng cấp, cụ thể như sau:

- Cơ quan Kiểm tra đảng cấp Trung ương có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh là cán bộ, công chức thuộc diện Trung ương quản lý; trường hợp cần thiết thì trưng tập cán bộ của Thanh tra Chính phủ tham gia xác minh;

- Cơ quan Kiểm tra đảng cấp tỉnh có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh là cán bộ, công chức thuộc diện ban thường vụ tỉnh ủy và cấp tương đương quản lý; trường hợp cần thiết thì trưng tập cán bộ của thanh tra tỉnh, thanh tra bộ tham gia xác minh;

- Cơ quan Kiểm tra đảng cấp huyện có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh là cán bộ, công chức thuộc diện Ban Thường vụ huyện ủy và cấp tương đương quản lý; trường hợp cần thiết thì trưng tập cán bộ của thanh tra huyện tham gia xác minh.

* Trong trường hợp người được xác minh công tác tại các cơ quan của Đảng mà không thuộc diện cấp ủy quản lý thì đơn vị có thẩm quyền xác minh được xác định như sau:

- Đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan Đảng ở cấp Trung ương, cấp tỉnh có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;

- Ban Tổ chức huyện ủy và tương đương có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh đang công tác tại cơ quan Đảng ở cấp huyện, cấp xã.

* Trong trường hợp người được xác minh không thuộc diện cấp ủy quản lý, không công tác tại các cơ quan của Đảng thì cơ quan có thẩm quyền xác minh được xác định như sau:

- Ở cấp Trung ương: Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, đơn vị phụ trách tổ chức, cán bộ của cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Trong trường hợp cần thiết thì cơ quan thanh tra chủ trì, phối hợp, huy động cán bộ của đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ tham gia xác minh.

- Ở cấp tỉnh: Thanh tra tỉnh có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong trường hợp cần thiết thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp, huy động cán bộ của Sở Nội vụ, của thanh tra sở tham gia xác minh.

Thanh tra sở có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc sở. Trong trường hợp cần thiết thanh tra sở chủ trì, phối hợp, huy động cán bộ của đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc sở tham gia xác minh.

- Ở cấp huyện: Thanh tra huyện có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cán bộ, công chức cấp xã. Trong trường hợp cần thiết thanh tra huyện chủ trì, phối hợp, huy động cán bộ của phòng nội vụ, phòng, ban chuyên môn có liên quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện tham gia xác minh.

- Ở doanh nghiệp nhà nước: Đơn vị phụ trách công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ, tổ chức cán bộ có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại tổ chức, đơn vị thuộc doanh nghiệp đó.

* Cơ quan thanh tra, kiểm tra, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ thuộc các cơ quan khác của Nhà nước ở Trung ương, cơ quan Trung ương của các đoàn thể, cơ quan cấp tỉnh của tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại cơ quan, tổ chức đó mà không thuộc diện cấp ủy quản lý.

Đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ có thẩm quyền xác minh đối với người được xác minh công tác tại cơ quan cấp huyện của tổ chức chính trị - xã hội; trường hợp cần thiết thì có văn bản đề nghị Ủy ban kiểm tra cấp huyện phối hợp tiến hành xác minh.

Nghị định cũng quy định trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền xác minh trong trường hợp người được xác minh không thuộc diện cấp ủy quản lý, không công tác tại các cơ quan của Đảng xác minh tài sản mà Thanh tra Chính phủ phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xác minh tài sản đó thì Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xác minh lại.Các quy định này làm rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm và tránh chồng chéo, và tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau (bởi đây là vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến lợi ích của người kê khai) giữa các cơ quan, tổ chức trong việc xác minh tài sản, thu nhập của người kê khai; giúp cho việc kiểm tra, xác minh nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả. Trường hợp phát hiện có vi phạm thì kiến nghị xử lý kịp thời đối với các hành vi kê khai không đúng, không đầy đủ. Nhằm bảo đảm việc kê khai và xác minh tài sản thực sự trở thành một biện pháp phát hiện và xử lý tham nhũng có hiệu quả.

Đối với người dân, các quy định trên tác động đến ý thức và hành vi xử xự của họ khi thực hiện quyền tố cáo các hành vi vi phạm của người kê khai tài sản, thu nhập. Họ sẽ tố cáo đúng địa chỉ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác minh và việc tố cáo trong trường hợp này bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm được thời gian.

 Các căn cứ  xác minh tài sản:

- Khi có tố cáo về việc không trung thực trong kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai;

- Khi xét thấy cần có thêm thông tin phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản;

- Khi có căn cứ cho rằng việc giải trình về nguồn gốc tài sản tăng thêm không hợp lý;

- Khi có yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã được Luật phòng, chống tham nhũng quy định.

Việc xác minh tài sản có vai trò rất quan trọng không chỉ trong công tác phòng, chống tham nhũng mà cả trong công tác cán bộ. Đối với việc bầu cử, bổ nhiệm, xác minh tài sản có tác động quyết định ngay tại thời điểm bầu cử, bổ nhiệm cũng như sẽ là cơ sở để kiểm soát biến động tài sản của cán bộ, công chức kể từ thời điểm được bầu hoặc bổ nhiệm. Còn đối với việc cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật, việc xác minh tài sản là cần thiết để xem xét kỹ lưỡng mức độ trách nhiệm của người bị cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật và để cân nhắc xem người đó có liên quan tới hành vi tham nhũng hay không.

b) Thẩm quyền yêu cầu xác minh tài sản

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 đã bổ sung Điều 47a quy định về thẩm quyền yêu cầu xác minh tài sản nhằm bảo đảm việc kê khai và xác minh tài sản thực sự trở thành một biện pháp phát hiện và xử lý tham nhũng có hiệu quả. Đây là quy định mới so với Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.

Luật quy định, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; cơ quan thường vụ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được bầu tại đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được Hội đồng nhân dân bầu; Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; Chủ tịch nước có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước.

        Ngoài ra, để phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát,  các cơ quan có thẩm quyền trong những lĩnh vực này có quyền yêu cầu xác minh tài sản để xác minh, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng.

c) Thủ tục xác minh tài sản

Trình tự, thủ tục tiến hành xác minh tài sản và trách nhiệm của các bên liên quan trong tiến trình xác minh tài sản được quy định tại Điều 48 như sau:

- Trước khi ra quyết định xác minh tài sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai giải trình rõ việc kê khai. Việc giải trình phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình.

- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định xác minh trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát sinh căn cứ đã được nêu trên.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc xác minh khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

- Trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày ra quyết định xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản tiến hành thẩm tra, xác minh và phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản.

- Thủ tục xác minh tài sản của người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 48. Thời hạn xác minh phải đáp ứng yêu cầu về thời gian bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trước khi quyết định xác minh tài sản được ban hành, người có nghĩa vụ kê khai tài sản được yêu cầu giải trình về việc kê khai trong thời hạn 05 ngày. Đây là cơ hội để người có nghĩa vụ kê khai giải thích về những nội dung chưa rõ ràng trong bản kê khai, bổ sung những nội dung chưa kê khai.

  Kết thúc thời hạn thẩm tra, xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản.  

Để tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho quá trình tiến hành xác minh, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP đã quy định nội dung quyết định xác minh; thời hạn xác minh là 15 ngày làm việc, vụ việc phức tạp thì thời hạn tối đa không quá 30 ngày làm việc; quy định cụ thể về hoạt động xác minh tài sản, thu nhập; quyền hạn, trách nhiệm của người xác minh; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan; nội dung báo cáo kết quả xác minh và kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập.

        2.4.8. Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản

Khoản 1, Điều 49 quy định: “Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản”.  

Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản phải được gửi cho cơ quan, tổ chức yêu cầu xác minh và người có tài sản được xác minh.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải chịu trách nhiệm về tính khách quan, chính xác và nội dung kết luận của mình.

Nội dung kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải nêu rõ sự phù hợp hay không phù hợp giữa Bản kê khai và kết quả xác minh. Trường hợp có sự không phù hợp giữa kết quả xác minh và bản kê khai thì kết luận không trung thực và nêu rõ sự sai lệch về số lượng tài sản, thu nhập, thông tin mô tả về tài sản, thu nhập, biến động tài sản, thu nhập, nguồn gốc tài sản tăng thêm; quyết định hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý Người có nghĩa vụ kê khai không trung thực.

Trường hợp người được xác minh tài sản, thu nhập đề nghị xem xét lại kết luận thì người có thẩm quyền kết luận có trách nhiệm xem xét và trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị. Trường hợp người được xác minh không đồng ý thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền kết luận xem xét giải quyết. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, người nhận được kiến nghị phải xem xét, và trả lời người được xác minh.

        2.4.9. Công khai kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản (Điều 50)

Nội dung công khai liên quan đến vấn đề kê khai tài sản tại Luật phòng, chống tham nhũng là sự minh bạch trong kê khai tài sản. Căn cứ để công khai bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản làkhi có yêu cầu và theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trong thời 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu công khai bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cơ quan, tổ chức đã yêu cầu xác minh, người đã ban hành kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải công khai bản kết luận đó. Đối với việc xác minh tài sản, thu nhập phục vụ cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật hoặc khi có hành vi tham nhũng thì người đã ban hành kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải công khai ngay bản kết luận đó. Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai tại các địa điểm sau đây:

- Trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản làm việc khi người đó được bổ nhiệm, bầu, phê chuẩn;

- Tại hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người được đề nghị để Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc Đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội bầu, phê chuẩn.

Đối với trường hợp người được xác minh tài sản là người bị khởi tố về hành vi tham nhũng, kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản của người này phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

        2.4.10. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản

Điều 51 Luật quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý và lưu giữ bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai do mình quản lý; tổ chức việc xác minh theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản và công khai kết luận đó theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong các trường hợp quy định tại Điều 50 của Luật.

        2.4.11. Xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập

a) Xử lý người kê khai tài sản không trung thực

  Một trong những điểm đáng chú ý nhất của cơ chế minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật phòng, chống tham nhũng đó là quy định về xử lý người kê khai tài sản không trung thực.

- Việc đặt ra chế tài là rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để xử lý người kê khai không trung thực, đồng thời, răn đe những người có ý định giấu diếm tài sản, kê khai không trung thực.

- Việc xử lý người kê khai tài sản không trung thực được quy định tại Điều 52 Luật phòng, chống tham nhũng.

- Điều 29 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP quy định người kê khai tài sản, thu nhập, người giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật.

Có thể thấy chế tài Luật đưa ra là rất nghiêm khắc. Với nguy cơ bị loại khỏi danh sách ứng cử hoặc không được bổ nhiệm, phê chuẩn nếu kê khai không trung thực, những người có ý định kê khai không trung thực sẽ phải rất cân nhắc khi thực hiện ý định của mình. Đồng thời, bản thân việc công khai quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc cũng là một chế tài có sức răn đe rất lớn.

b)Xử lý các hành vi vi phạm  khác trong minh bạch tài sản, thu nhập

- Để bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định về thời hạn tổ chức thực hiện việc kê khai, công khai, giải trình, tổng hợp, báo cáo kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP đã quy định hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo hoặc nặng hơn đối với những trường hợp thực hiện chậm so với thời hạn quy định mà không có lý do chính đáng (Điều 28 Nghị định).

- Bên cạnh đó Điều 30 Nghị định số 78/2013/NĐ-CP cũng quy định xử lý trách nhiệm trong việc xác minh tài sản, thu nhập.

+ Theo đó, người yêu cầu xác minh, người ban hành quyết định xác minh, người xác minh, người có thẩm quyền kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập có hành vi vi phạm các quy định về xác minh tài sản, thu nhập thì tùy theo tính chất, mức độ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp làm phương hại đến người được xác minh thì có trách nhiệm khắc phục hậu quả và cải chính công khai bằng văn bản; văn bản phải được gửi cho người được xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

+ Người đứng đầu, người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin, tài liệu trong các cơ quan, đơn vị liên quan đến quản lý về đất đai, nhà, công trình kiến trúc, thuế, tài chính, ngân hàng và các cơ quan, đơn vị có liên quan khác không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời yêu cầu phục vụ xác minh thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

+ Người tiết lộ thông tin hồ sơ xác minh tài sản, thu nhập khi chưa được người có thẩm quyền cho phép thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý.

+ Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với những người nói trên được thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và theo quy định của tổ chức đó.

-  Ý nghĩa:

+ Các quy định này tác động đến nhận thức và thái độ của người kê khai; người có trách nhiệm tổ chức kê khai; người đứng đầu, người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin tài liệu cho người xác minh tài sản; người có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập. Hơn ai hết họ nhận thức rằng, nếu vi phạm các quy định trên thì bị xử lý theo các chế tài Nghị định đã quy định. Đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, họ có đủ căn cứ pháp lý để xem xét, áp dụng các hình thức xử lý theo quy định; tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời tăng cường sự phối hợp, trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập.

+ Đối với xã hội, các quy định trên sẽ giúp tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi kê khai chậm đối với người có nghĩa vụ kê khai; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có cán bộ tổ chức việc kê khai chậm; người đứng đầu, người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin tài liệu cho người xác minh tài sản; người có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập mà thực hiện chậm về thời hạn tổng hợp, báo cáo; phục vụ thiết thực cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng; nhằm ngăn ngừa việc bao che, tẩu tán tài sản, thu nhập bất minh; tính minh bạch về xử lý vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập được xã hội đồng tình.

        2.4.12. Kiểm soát thu nhập

Điều 53 quy định trách nhiệm của Chính phủ trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Hiện tại, cơ chế đăng ký tài sản, kiểm soát thu nhập nói chung của Việt Nam còn hết sức hạn chế và cần được cải thiện từng bước. Nhà nước tiếp tục nghiên cứu để ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ nhằm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn một cách hữu hiệu.

   2.5. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng (Điều 53 – Điều 55)

Ý nghĩa: Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu đóng vai trò trọng tâm, then chốt. Việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đi đôi với tăng cường hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng rất chú trọng quy định về vấn đề này và đã quy định nhiều nội dung quan trọng, tương đối đồng bộ về trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, trong đó, có vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng. Luật cũng quy định tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm.

        2.5.1. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức.

Năm 2012, Luật đã bổ sung thêm Điều 53a về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức đó có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Đồng thời khoản 2 Điều 53a cũng quy định về trách nhiệm của người đứng đầu, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời này khi có yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nếu trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát phát hiện có căn cứ cho rằng người đó có hành vi tham nhũng để xác minh, làm rõ.

Tuy nhiên, nhằm hạn chế việc sử dụng các biện pháp này vào mục đích trái pháp luật, khoản 3 Điều 53a quy định về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác, cũng như thông báo công khai đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và khôi phục quyền, lợi ích pháp cho cán bộ, công chức, viên chức khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng;

Nhằm hướng dẫn, quy định chi tiết đối với quy định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã giành hẳn Chương 3 với 4 mục, 13 điều quy định về vấn đề này.

Trên cơ sở Khoản 1 Điều 53a Luật phòng, chống tham nhũng, Điều 13 Nghị định số 59/2013/NĐ – CP quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Việc xác định thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc quyết định tạm thời chuyển vị trí công tác khác căn cứ vào thẩm quyền bổ nhiệm, miễm nhiệm, cách chức, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức được pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức quy định. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có quyền bổ nhiệm, tuyển dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định hoặc kiến nghị người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý khi có căn cứ được quy định trong Nghị định này.

Từ nguyên tắc xác định thẩm quyền như vậy, Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền cụ thể của từng cấp trong cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện; người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Để làm cơ sở cho đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước trong việc ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác, Điều 15 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác trong đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Nghị định cũng quy định trường hợp pháp luật khác hoặc điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quy định về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thì áp dụng pháp luật đó hoặc theo điều lệ của tổ chức đó (Điều 13).

a) Về căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 quy định: người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức để xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Để đảm bảo tính minh bạch, Điều 16 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định chi tiết về căn cứ để người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Theo đó, Việc quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng và đồng thời người đó có dấu hiệu gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý nếu vẫn tiếp tục làm việc.

Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định căn cứ để cho rằng cán bộ, công chức, viên chức có hành vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng được xác định một trong các trường hợp: (1) khi có văn bản yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; (2) Qua xác minh, làm rõ nội dung theo đơn tố cáo phát hiện cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng; (3) Qua công tác tự kiểm tra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị phát hiện cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng; (4) Qua công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát hiện cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc thi hành công vụ. Tuy nhiên, người có thẩm quyền chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển vị trí công tác khác khi có thêm dấu hiệu cho rằng cán bộ, công chức, viên chức đó gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như có hành vi từ chối cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, không đầy đủ; cố ý trì hoãn, trốn tránh không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền trong quá trình xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng; tự ý tháo gỡ niêm phong tài liệu, tiêu huỷ thông tin, tài liệu, chứng cứ; tẩu tán tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình hoặc của người khác hoặc dùng hình thức khác để che dấu hành vi vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho việc xác minh, làm rõ.

b) Về quyền, nghĩa vụ của người ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho người ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của người ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 17 Nghị định). Cụ thể:

Người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức có quyền sau:

- Yêu cầu cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cung cấp thông tin, tài liệu để làm rõ căn cứ cho việc ra quyết định tạm chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác;

- Yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác phối hợp với cơ quan hoặc người có thẩm quyền để xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng.

Bên cạnh quyền trên thì người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ sau:

- Gửi quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đến cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác và cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi tiếp nhận người tạm thời chuyển vị trí công tác đến làm việc;

- Hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức sau khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng hoặc hết thời hạn tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác mà không xác định được người đó có hành vi tham nhũng;

- Thông báo công khai với toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức;

- Khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức sau khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng hoặc hết thời hạn tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác mà không xác định được người đó có hành vi tham nhũng.

* Để đảm bảo công bằng và bình đẳng, khách quan, Điều 18 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định cho cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Cụ thể:

Cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có quyền sau:

- Nhận quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác;

- Nhận thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận về việc xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng;

- Đề nghị người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác xem xét lại quyết định khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

- Đề nghị người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác khi hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có kết luận về hành vi tham nhũng hoặc sau khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng;

- Đề nghị người có thẩm quyền khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của mình và bồi thường khi có thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong việc ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.

Cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có nghĩa vụ sau:

- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định tạm đình chỉ công tác, quyết định tạm thời chuyển vị trí công tác khác của người có thẩm quyền;

- Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng;

- Chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức đơn vị tiếp nhận trong thời gian tạm thời chuyển vị trí công tác khác.

c) Về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác

Việc ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc quyết định tạm thời chuyển vị trí công tác khác rất quan trọng trong quá trình xác minh hành vi tham nhũng. Điều 19 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có căn cứ được nêu trên thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ công tác hay chuyển vị trí công tác khác là quyền của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ vào tính chất, mức độ của từng vụ việc cụ thể cũng như yêu cầu bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Nghị định số 59/2013/NĐ-CP cũng đã quy định cụ thể, hướng dẫn về việc ban hành quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Khoản 3, 4 Điều 19 Nghị định). Trong trường hợp pháp luật khác có quy định về trình tự, thủ tục tục tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thì áp dụng quy định của pháp luật đó (Khoản 5 Điều 19 Nghị định).

Tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác được hiểu là các biện pháp do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng và nếu xét thấy nếu để họ tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Vì vậy, đây chính là các biện pháp quản lý, điều hành của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm hỗ trợ cho quá trình xác minh, làm rõ về hành vi tham nhũng. Do đó, thời hạn áp dụng biện pháp này cần quy định ở mức độ phù hợp để các cơ quan có thẩm quyền loại bỏ khả năng cán bộ, công chức, viên chức có thể gây khó khăn, cản trở cho việc xác minh làm rõ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc nắm thông tin ban đầu trong hoạt động điều tra. Trên tinh thần đó, Điều 20 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức tối đa là 90 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.

Nhằm hướng dẫn nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 53a Luật phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định về huỷ bỏ và công khai quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 21, 22 Nghị định). Cụ thể như sau:

Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận cán bộ, công chức, viên chức không có hành vi tham nhũng hoặc kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác mà không có kết luận về hành vi tham nhũng thì người đã ra quyết định phải hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức. Quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác được gửi cho cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi tiếp nhận người chuyển vị trí công tác đến làm việc; cơ quan, tổ chức, cá nhân đã yêu cầu tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.”

Người ra quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có trách nhiệm công khai với toàn thể cán bộ, công chức, viên chức về quyết định đó bằng một trong các hình thức sau đây:

- Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác làm việc với thành phần gồm: Người ra quyết định hủy bỏ; cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đã tiếp nhận người chuyển vị trí công tác khác; cơ quan, tổ chức, cá nhân đã yêu cầu tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác và các cán bộ, công chức, viên chức nơi người đó làm việc;

- Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đó làm việc trong thời hạn 15 ngày liên tục, kể từ ngày niêm yết;

- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm: Báo nói, báo hình, báo viết và báo điện tử. Người ra quyết định hủy bỏ việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có thể lựa chọn một trong các hình thức thông báo trên báo nói, báo hình, báo viết hoặc báo điện tử để thực hiện việc công khai; trường hợp cơ quan có Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử thì phải công khai trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử đó.

Để bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong quá trình áp dụng trên thực tế, dự thảo Nghị định đã quy định về việc áp dụng pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức là thành viên của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội tại Điều 23 Nghị định. Theo đó, việc xác định trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức là thành viên của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng, Nghị định này và điều lệ, quy định của tổ chức đó.

d) Về chế độ, chính sách; bồi thường, khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp đối với cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác

Để phù hợp với pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, Điều 24 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vi trí công tác khác. Cán bộ, công chức, viên chức trong thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác được giữ nguyên chế độ, chính sách và các quyền, lợi ích hợp pháp khác như ở vị trí công tác ban đầu. Điều 25 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP cũng đã quy định cụ thể về việc khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức sau khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng, cụ thểtrường hợp kết luận cán bộ, công chức, viên chức không có hành vi tham nhũng và người có thẩm quyền quản lý sử dụng cán bộ, công chức đã có hành vi vi phạm pháp luật trong việc tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thì được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật và được trở lại vị trí công tác ban đầu.

        2.5.2 Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 54)

a) Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được hiểu trong hai trường hợp như sau:

Thứ nhất, người đứng đầu với tư cách là người lãnh đạo, quản lý cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Do đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Thứ hai, người đứng đầu với tư cách là người trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ.

Về trường hợp liên đới chịu trách nhiệm,người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách.

b) Đối với trách nhiệm của cấp phó người đứng đầu:

- Chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

- Phân cấp đi đôi với trách nhiệm, vì vậy, cấp phó phải chịu trách nhiệm pháp lý trước tiên và trực tiếp đối với việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

c) Trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trực thuộc:

Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý.

d) Trách nhiệm của người đứng đầu, cá nhân có trách nhiệm trong các tổ chức khác:

Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước về việc để xảy ra hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật này và điều lệ, quy chế của tổ chức đó.

đ) Trường hợp loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu:

Luật quy định: trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 54 được loại trừ trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

        2.5.3. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 55)

a) Xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự:

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

b) Xử lý kỷ luật:

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật.

c) Trường hợp miễn, giảm trách nhiệm pháp lý:

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 55 nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

d) Kết luận về các mức độ trách nhiệm của người đứng đầu trong vụ việc, vụ án tham nhũng:

Trong kết luận thanh tra, báo cáo kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:

- Yếu kém về năng lực quản lý;

- Thiếu trách nhiệm trong quản lý;

- Bao che cho người có hành vi tham nhũng.

Kết luận, báo cáo phải được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý cán bộ.

Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Vụ việc tham nhũng được chia theo các mức độ sau đây:

- Tham nhũng ít nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó người có hành vi tham nhũng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử phạt bằng hình thức cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù đến 03 năm;

- Tham nhũng nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó người có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm;

- Tham nhũng rất nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó người có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;

- Tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó người có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 15 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình.

Về nguyên tắc xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, Điều 4 Nghị định số 107/2006/NĐ-CP và khoản 1 Điều 1Nghị định số 211/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013  quy định:

- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nếu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định này hoặc nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nếu phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định này.

- Trường hợp vụ, việc tham nhũng xảy ra liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị thì ngoài cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra vụ, việc tham nhũng, người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan có người vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Nghị định này.

Việc xử lý kỷ luật người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý và người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân do mình quản lý có liên quan quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định này, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau: “1) Căn cứ vào sự phân công, phân cấp quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới. 2) Căn cứ vào mối quan hệ công tác giữa trách nhiệm quản lý của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu với hành vi tham nhũng của người được phân công phụ trách, quản lý”.

1.6.              Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán (Mục 6 Chương II)

        2.6.1. Cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng (Điều 56)

Ý nghĩa: Thủ tục hành chính vẫn được xesm là cơ hội  cho tham nhũng vặt, việc cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính sẽ giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Qua đó phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước vừa đảm bảo quyền lợi thiết thực nhất của cá nhân, tổ chức trước tình trạng có quá nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà, sách nhiễu như hiện nay.

Tại Điều 59 Luật PCTN quy định: Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

        2.6.2. Tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong quản lý (Điều 57)

Luật cũng quy định có tính chất định hướng cho các cơ quan nhà nước áp dụng khoa học – công nghệ trong quản lý nhằm giảm bớt cơ hội và nguy cơ xảy ra tham nhũng, nhất là việc tiếp xúc trực tiếp giữa người quản lý và người bị quản lý trong những trường hợp không cần thiết. Cụ thể:

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức.

        2.6.3. Đổi mới phương thức thanh toán (Điều 58)

Hiện nay, về cơ bản nền kinh tế chúng ta vẫn là nền kinh tế tiền mặt, các giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt, rất khó kiểm soát. Vì vậy, cùng với áp dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, cần phải đổi mới phương thức thanh toán để kiểm soát chặt chẽ hơn các giao dịch, nhất là những khoản chi có sử dụng ngân sách nhà nước và các khỏan chi liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm sự minh bạch trong các nguồn thu nhập của họ. Điều 58 Luật quy định:

- Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý để thực hiện việc thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, Kho bạc nhà nước. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản.

- Chính phủ áp dụng các giải pháp tài chính, công nghệ tiến tới thực hiện mọi khoản chi đối với người có chức vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 1 của Luật PCTN và các giao dịch khác sử dụng ngân sách nhà nước phải thông qua tài khoản.

3.       Các biện pháp phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng

Luật quy định việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu:

- Công tác kiểm tra của các cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán;

- Tố cáo của công dân.

          3.1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước.

v  Luật nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tùy từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Tại Điều 59, Luật quy định: “1) Thủ trưởng Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chứckiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng. 2) Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trưởngcơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyềnthông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền”.

v  Ngoài ra, Luật cũng quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị trong việc tự kiểm tra nội bộ cơ quan, tổ chức mình, kiểm tra việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức do mình quản lý để phát hiện tham nhũng. Tại Điều 60 Luật quy định: “1) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp và những cán bộ, công chức khác do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng. 2) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc người đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý. 3) Khi phát hiện hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền”.

v  Để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, thậm chí lại lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn phiền hà, Luật quy định các hình thức kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp phải kiểm tra đột xuất thì phải có những điều kiện nhất định chứ không được tuỳ tiện:

 - Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào những lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng.

- Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.

3.2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát.

Luật PCTN quy định trách nhiệm của các cơ quanthanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát trong việc phát hiện hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức thông qua hoạt động của mình, là cần thiết và hữu hiệu. Quy định này góp phần góp phần nâng cao vai trò “cầm cân nảy mực” của cơ quan thanh tra nhà nước, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan quyền lực khi thực hiện hoạt động này. Ở đây không đơn thuần chỉ là việc bảo vệ trật tự quản lý nhà nước, mà còn là việc chủ động phát hiện để xử lý khịp thời và ngăn ngừa, nhằm tránh sự xâm hại đến lợi ích của công dân. Cụ thể sau:

- Cơ quan thanh tra nhà nước, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình(Điều 62 Luật).

- Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật(Điều 63).

- Đối với công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, căn cứ vào Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 86/2011/NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thanh tra, thì Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã quy định nội dung thanh tra; căn cứ tiến hành thanh tra; thẩm quyền thanh tra; trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; xây dựng kế hoạch thanh tra hằng năm; nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết dịnh thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra; trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra; kết luận thanh tra, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là đối tượng thanh tra.

        3.3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng

          - Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo).

- Tố cáo và trình tự, thủ tục giải quyết cũng như trách nhiệm giải quyết tố cáo đã được quy định trong Luật tố cáo. Luật phòng, chống tham nhũng quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng. Trước hết, Luật quy định quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng đồng thời cũng xác định trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo:

“1. Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. 2) Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. 3) Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 64).

Đây là quy định mới về quyền tố cáo của công dân, về cả mặt quy định pháp luật và thực tiễn, công dân có thể thực hiện quyền tố cáo tất cả các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Nhưng Luật PCTN, lần đầu tiên, quyền tố cáo của công dân về hành vi tham nhũng được “luật hóa”. Công dân tố cáo hành vi tham nhũng, một mặt nhằm xử lý, ngăn ngừa hành vi tham nhũng, một mặt nhằm xử lý, ngăn ngừa hành vi tham nhũng, làm trong sạch bộ máy; mặt khác, để bảo vệ quyền lợi của mình.

-  Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Đặc biệt, Luật nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe doạ trả thù, trù dập. Tại Điều 65, Luật phòng, chống tham nhũng quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền; giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo có yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu”.

-  Luật cũng quy định trách nhiệm chủ yếu có tính chất đầu mối trong việc xử lý các tố cáo về hành tham nhũng là cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát như sau:

“Cơ quan thanh tra có trách nhiệm giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý; trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhận được tố cáo về hành vi tham nhũng phải xử lý theo thẩm quyền”(Điều 65).

-  Luật cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, hạn chế thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

Điều 54 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP đã cụ thể hóa các hình thức tố cáo hành vi tham nhũng mà người tố cáo có thể thực hiện:  Tố cáo trực tiếp; Gửi đơn tố cáo; Tố cáo qua điện thoại; Tố cáo qua mạng thông tin điện tử.

- Luật quy định khen thưởng cho người tố cáo hành vi tham nhũng., theo đó, Điều 67 quy định: "Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện hành vi ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần theo quy định của pháp luật".Điều 59 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP cũng khẳng định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng thì được khen thưởng về vật chất và tinh thần. Khen thưởng người có thành tích trong việc tố cáo tham nhũng được thực hiện theo pháp luật về tố cáo và khen thưởng.

Để thực hiện được việc khen thưởng, Nghị định quy định về quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng. Theo đó, quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng được thành lập để khen thưởng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng. Quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng được lấy từ ngân sách nhà nước, trích từ tài sản được thu hồi từ các vụ, việc tham nhũng và đóng góp của tổ chức, cá nhân. Việc quản lý, sử dụng quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước.

Việc khen thưởng người có thành tích trong việc tố cáo rất quan trọng nhằm đảm bảo tính chính xác, công bằng, kịp thời, bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất. Nghị định số 76/2012/NĐ-CP đã quy định cụ thể về hình thức khen thưởng, tiêu chuẩn khen thưởng, hồ sơ, thủ tục khen thưởng, quỹ khen thưởng và mức thưởng. 

4.       Vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng và công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng.

Vai trò của xã hội thể hiện ở việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và trong công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng, xã hội có quyền đòi hỏi Nhà nước thực hiện đúng chức năng của mình cũng như đòi hỏi phải xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm của đội ngũ cán bộ, công chức, những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hình thành nên từ sự đóng góp của các thành viên.

Xuất phát từ đặc thù thể chế chính trị tại Việt Nam, “xã hội” trong phòng, chống tham nhũng được tập trung vào một số chủ thể nhất định, bao gồm: Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề, báo chí, ban thanh tra nhân dân và công dân. Có thể nói đây là những tổ chức nòng cốt, có vai trò trong công tác phòng, chống tham nhũng. Sự giám sát nhà nước từ phía xã hội có vai trò như sau:

- Đảm bảo nhằm hạn chế tối đa sự lạm dụng quyền lực nhà nước vì mục đích cá nhân - một biểu hiện chủ yếu của tham nhũng. Trong một xã hội dân chủ, sự kiểm sát của xã hội và khi đó, mọi sự lạm quyền hay tùy tiện của nhà nước thông qua hành vi công chức nhà nước sẽ ít có cơ hội diễn ra và do đó, tham nhũng khó nảy sinh.

- Đảm bảo để quyền con người được thực hiện, để nhà nước thực thi tốt chức năng xã hội của mình – một điều kiện phòng ngừa tham nhũng từ xa. Khi quyền lực nhà nước được thực hiện nghiêm minh thì cơ hội cho mọi chủ thể trong xã hội là ngang bằng nhau, đồng nghĩa với quyền con người được bảo đảm thực thi đối với mọi cá nhân bởi khi đó, cơ hội cho tham nhũng nảy sinh là rất ít và cơ hội để vạch trần tham nhũng là rất cao.

Đối với Việt Nam, vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nũng không chỉ xuất phát từ lý thuyết về kiểm soát nhà nước từ phía xã hội mà còn xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân như Hiến pháp đã ghi nhận.

Thực tế cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong những năm qua cho thấy đa số các vụ tham nhũng được vạch trần bắt đầu từ sự phát hiện của báo chí và các cơ quan thông tấn và thông qua phát giác của quần chúng nhân dân. Thông qua việc tuyên truyền, giáo dục người dân tham gia đấu tranh chống tham nhũng, vạch trần và lên án những hành vi tham nhũng, cùng phát hiện tình hình tham nhũng ở các địa phương, bộ, ngành để thủ trưởng các ngành, các cấp nêu cao trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn này.

Luật ghi nhận và đề cao vai trò cũng như trách nhiệm của các đoàn thể xã hội, báo chí, doanh nghiệp và công dân trong phòng, chống tham nhũng; có các quy định cụ thể nhằm khuyến khích và đảm bảo sự tham gia của xã hội; quy định rõ về quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức và công dân; cơ chế cụ thể để thực hiện quyền này.

Một điểm mới, được coi là tiến bộ là Luật đề cao vai trò và trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng. Theo đó, cơ quan báo chí, đặc biệt là cá nhân phóng viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi tham nhũng; cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu đó theo quy định của pháp luật; trường hợp không cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Vai trò và sự tham gia của xã hội trong phòng, chống nhũng là một yếu tố thiết yếu trong một hệ thống phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Từ vị trí của mình trong hệ thống chính trị, ảnh hưởng trong đời sống xã hội, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề, báo chí và các đòan thể nhân dân có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Luật quy định cụ thể vai trò của từng chủ thể như sau:

4.1. Vai trò và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được coi là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị trong thiết chế quyền lực của Nhà nước ta, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của bộ máy chính quyền nhân dân. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội đã được khẳng định và chứng minh trong suốt quá trình lịch sự giành chính quyền và xây dựng đất nước từ khi Đảng Cộng sản ra đời.

Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được quy định rõ, theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phòng, chống tham nhũng; phát hiện, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham nhũng; giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Điều 8).

Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn thể hiện ở những nội dung sau:       

- Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân và các thành viên tổ chức mình thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

- Kiến nghị các biện pháp nhằm phát hiện và phòng ngừa tham nhũng;

- Động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng;

- Cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xác minh, xử lý vụ việc tham nhũng;

- Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xác minh vụ việc tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem xét, trả lời trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày (Điều 85).

Như vậy, một mặt, Luật phòng, chống tham nhũng ghi nhận vai trò hết sức to lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các thành viên trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Mặt khác, Luật cũng đặt ra yêu cầu rất cao về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xem xét, thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện tốt quyền giám sát của mình.

Ngày 27/3/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Nghị định này quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác phòng, chống tham nhũng về các mặt hoạt động, cụ thể như sau:

* Phối hợp trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng:

- Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên cùng cấp xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho các thành viên, hội viên, đoàn viên và nhân dân.

- Cơ quan nhà nước tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho nhân dân; động viên hội viên, đoàn viên, nhân dân thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Trong trường hợp cơ quan nhà nước chủ trì việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng thì đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp có liên quan tham gia phối hợp.

- Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho nhân dân trong địa phương.

* Phối hợp trong hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng:

- Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở địa phương, cơ sở, cơ quan nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, tiếp thu kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp, Ban thanh tra nhân dân và ý kiến của nhân dân phản ánh thông qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Hội đồng nhân dân các cấp khi thực hiện nhiệm vụ giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng có trách nhiệm mời đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tham gia xây dựng kế hoạch giám sát, tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Hội đồng nhân dân.

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Để thực hiện tốt điều này, Luật quy định người đứng đầu cơ quan nhà nước có trách nhiệm:

- Cung cấp thông tin về những vấn đề có liên quan đến hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên;

- Cử đại diện tham gia hoạt động giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên khi được đề nghị;

- Xem xét, giải quyết và trả lời yêu cầu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xác minh vụ việc tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;

- Xem xét, giải quyết kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về việc biểu đương, khen thưởng người tốt, việc tốt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng;

- Xem xét, giải quyết kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về việc sửa đổi, bổ sung, đình chỉ hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật không phù hợp, làm nảy sinh tham nhũng.

* Phối hợp trong việc cung cấp thông tin, thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, xác minh, xử lý người có hành vi tham nhũng, vụ việc tham nhũng

.         - Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của mình trong công tác phòng, chống tham nhũng cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chúc thành viên khi có yêu cầu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

- Khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về việc áp dụng biện pháp phòng ngừa tham nhũng, xác minh vụ việc tham những, xử lý người có hành vi tham nhũng thì trong thời hạn mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, trả lời Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về việc xem xét, xử lý đó. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn cỏ thể kéo dài nhưng không quá ba mươi (30) ngày.

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được tố cáo về vụ việc tham nhũng do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên chuyển đến có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Trong thời hạn bảy (7) ngày kể từ ngày vụ việc được giải quyết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đến biết kết quả.

- Trong quá trình xác minh, xử lý vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng để làm cơ sở xem xét, giải quyết. Thời hạn cung cấp thông tin của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khi cần thiết, cơ quan nhà nước đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cử đại diện của tổ chức mình tham gia xác minh, xử lý vụ việc tham nhũng.

* Phối hợp trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng

- Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân:

+ Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cơ quan tư pháp của Ủy ban nhân dân cùng cấp có trách nhiệm tập hợp những ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp về dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân trình cơ quan có thẩm quyền;

+ Đối với dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị có liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phòng, chống tham nhũng thì cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi dự thảo để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cùng cấp có liên quan tham gia ý kiến.

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp với Ban Thường trực Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội là thành viên của Mặt trận ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành những vấn đề mà pháp luật quy định trách nhiệm tham gia phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội thành viên ở địa phương.

* Về phối hợp trong phòng, chống tham nhũng thông qua hiệp thương bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tuyển chọn Thẩm phán, Kiểm sát viên, giới thiệu hội Thẩm tòa án nhân dân.

Luật quy định, khi nhận được yêu cầu xác minh của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về dấu hiệu tham nhũng của những người được lựa chọn, giới thiệu là ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tuyển chọn Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân thì trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, trả lời. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày.

Để thực hiện các nội dung như trên, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP cũng quy định việc xây dựng nội dung phối hợp công tác về phòng, chống tham nhũng như sau:

- Cơ quan nhà nước và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xây đựng nội dung phối hợp về công tác phòng, chống tham nhũng. Nội dung phối hợp được quy định trong quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan nhà nước và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Nội dung phối hợp về công tác phòng, chống tham nhũng phải căn cứ vào yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, điều kiện cụ thể của từng địa phương. Nội dung phối hợp có những hoạt động chủ yếu sau:

+ Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

+ Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham những;

+ Phối hợp trong việc cung cấp thông tin, phát hiện, xác minh, xử lý vụ việc tham nhũng;

+ Các biện pháp tổ chức thực hiện;

+ Trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp.

4.2. Vai trò và trách nhiệm của báo chí

Báo chí tham gia đắc lực trong công tác phòng, chống tham nhũng, làm sáng tỏ, đưa ra công khai, phơi bày trước dư luận xã hội những sự thật để nhân dân phán xét. Chính từ sự phán xét của đông đảo quần chúng nhân dân mà dư luận xã hội có sức mạnh. Sức mạnh đó cũng chính là nguồn tiếp sức cho báo chí nâng cao tính chất chiến đấu của mình. Và ngược lại, nhờ sức mạnh của công luận mà quần chúng nhân dân được cổ vũ, tạo thêm quyết tâm và dũng khí đấu tranh.

Vai trò của cơ quan báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong những năm qua được đánh giá rất cao, việc Luật dành một số điều quy định về vai trò, trách nhiệm của cơ quan báo chí là cần thiết. Theo tinh thần đó, Luật quy định: Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng; khi đưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa (Điều 9).

Nhà nước khuyến khích cơ quan báo chí, phóng viên đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng; cơ quan báo chí có trách nhiệm biểu dương tinh thần và những việc làm tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng; lên án, đấu tranh đối với những người có hành vi tham nhũng; tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Luật cũng quy định quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan báo chí và phóng viên cùng trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ cơ quan báo chí và phóng viên thực hiện được chức năng của mình, bảo đảm đúng múc đích hoạt động của báo chí, để báo chí thực sự là tiếng nói của nhân dân, qua đó phát huy vai trò tích cực của mình trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cụ thể Luật quy định: cơ quan báo chí, phóng viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu đó theo quy định của pháp luật; trường hợp không cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; cơ quan báo chí, phóng viên phải đưa tin trung thực, khách quan. Tổng biên tập, phóng viên chịu trách nhiệm về việc đưa tin và chấp hành pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp (Điều 86).

Trên cơ sở các quy định này của Luật, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP đã cụ thể hóa một số vấn đề liên quan đến vai trò và trách nhiệm của báo chí trong lĩnh vực này, bao gồm:

-         Tuyên truyền, động viên nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng:

Qua hoạt động nghề nghiệp báo chí của mình, các cơ quan báo chí, nhà báo thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình có trách nhiệm thực hiện việc tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; tuyên truyền về công tác phòng, chống tham nhũng của các cơ quan, tổ chức; Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, động viên nhân dân tích cực tham gia đấu tranh chống tham những; Biểu dương tinh thần và những việc làm tích cực của tập thể, cá nhân trong công tác phòng, chống tham nhũng; bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng; Lên án, đấu tranh với người có hành vi tham nhũng.

Việc giao trách nhiệm thực hiện tuyên truyền, biểu dương, động viên nhân dân, bảo vệ người tố cáo và lên án đấu tranh với người có hành vi tham nhũng đã thể hiện khả năng tiếp cận với công chúng của báo chí.

- Việc thu thập, cung cấp thông tin về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng:

+ Khi nhận được kiến nghị, phản ánh, tin, bài của công dân về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hoặc thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, cơ quan báo chí, nhà báo có quyền thu thập thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật để làm rõ về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo quy định của pháp luật.

+ Khi nhận được yêu cầu của cơ quan báo chí, nhà báo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan báo chí, nhà báo, giúp cho báo chí thông tin chính xác, kịp thời.

Bên cạnh đó, để đề cao trách nhiệm của nhà báo và cơ quan báo chí, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 cũng có quy định cụ thể liên quan đến việc đưa tin của cơ quan báo chí, nhà báo về phòng, chống tham nhũng như sau:

- Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng. Khi đưa tin về vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng, cơ quan báo chí, nhà báo phải đưa tin trung thực, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đưa tin đó.

- Cơ quan báo chí phát hiện hoặc nhận được tố cáo của công dân về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì phải báo ngay cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân bằng văn bản. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thụ lý và trả lời cho báo chí cách giải quyết. Cơ quan báo chí có quyền đưa tin về vụ việc có dấu hiệu tham những từ các thông tin, tài liệu mà mình có được và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin được đăng tải trên báo chí.

Trường hợp có căn cứ cho rằng kiến nghị, phản ánh, tin, bài, tố cáo của công dân về vụ việc tham nhũng không có cơ sở thì cơ quan báo chí thông báo cho công dân về việc không đưa tin và nêu rõ lý do.

          Để tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí và nâng cao trách nhiệm, chất lượng và vai trò của báo chí trong phòng, chống tham nhũng thì pháp luật quy định: Tổng biên tập, nhà báo chịu trách nhiệm về việc đưa tin và chấp hành pháp luật về báo chí, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động báo chí. Cơ quan báo chí, nhà báo không được đưa tin về những vụ việc không có căn cứ rõ ràng; đưa tin sai sự thật; phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích của tổ chức, cá nhân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của công dân; không được tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và các thông tin khác theo quy định của pháp luật. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền và nghĩa vụ từ chối tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo, người cung cấp thông tin về vụ việc tham những, về người có hành vi tham nhũng nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Khi đưa tin trên báo chí về vụ việc có dấu hiệu tham những, cơ quan báo chí, nhà báo đưa tin sai sự thật phải cải chính, xin lỗi theo quy định của pháp luật về báo chí. Nếu lợi dụng quyền thông tin báo chí để xuyên tạc, vu khống thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

          Để phát huy vai trò và trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng thì Nghị định số 47/2007/NĐ-CP quy định trách nhiệm của Hội nhà báo trong việc tuyên truyền, động viên cơ quan báo chí, nhà báo là hội viên của mình tham gia phòng, chống tham nhũng; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan báo chí, nhà báo là hội viên của mình bị đe doạ trả thù, trù dập khi đưa tin về phòng, chống tham nhũng. Nghị định cũng quy định: trong quá trình tác nghiệp, khi có căn cứ cho rằng việc thông tin về vụ việc tham nhũng có thể dẫn đến nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của mình, nhà báo có quyền đề nghị cơ quan báo chí và cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ mình. Khi nhận được đề nghị được bảo vệ của nhà báo, cơ quan báo chí có trách nhiệm áp dụng ngay các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết bảo vệ nhà báo đó. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm áp dụng ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ cơ quan báo chí, nhà báo.

4.3. Vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề

Các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa tham nhũng. Bởi lẽ, đây là nhóm chủ thể quyết định đến “sức khoể” của nền kinh tế và là đối tượng sử dụng dịch vụ công nhiều nhất. Do vậy, họ cũng là nhóm đối tượng mà hành vi tham nhũng hướng tới nhiều nhất, bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi tham nhũng. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp là nạn nhân của tệ tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu từ những người có chức vụ, quyền hạn nhưng cũng không ít doanh nghiệp đã tìm cách để hối lộ, tiếp tay cho hành vi tham nhũng để mưu lợi cá nhân. Điều đó, làm ảnh hưởng đến những doanh nghiệp làm ăn đứng đắn, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh. Chính vì vậy, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vừa là trách nhiệm, vừa là đòi hỏi tất yếu của doanh nghiệp và những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Nhằm tăng cường trách nhiệm và vai trò của cộng động doanh nghiệp, tạo kênh thông tin giữa khu vực doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, đòi hối lộ của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết các công việc liên quan đến doanh nghiệp, cũng như các biểu hiện đưa hối lộ của doanh nghiệp nhằm tạo lợi thế cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

Luật dành một điều quy định về vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề. Theo đó, doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo về hành vi tham nhũng và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xác minh, kết luận về hành vi tham nhũng; hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm tổ chức, động viên, khuyến khích hội viên của mình xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng; hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và hội viên có trách nhiệm kiến nghị với Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhằm phòng, chống tham nhũng; Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, có cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi tham ô, đưa hối lộ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các tổ chức khác tổ chức diễn đàn để trao đổi, cung cấp thông tin, phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng (Điều 87).

Cụ thể hóa quy định này của Luật, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP đã nêu các hoạt động mà doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có thể thực hiện để góp phần phòng, chống tham nhũng như sau:

- Doanh nghiệp có trách nhiệm: Tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp; vận động cán bộ, người lao động thực hiện các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; Tổ chức các hình thức động viên, giáo dục cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp thực hiện quy tắc ứng xử trong hoạt động của doanh nghiệp để phòng ngừa tham nhũng.

- Hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm: Tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho các hội viên của hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề; vận động hội viên thực hiện các quy định của Luật Phòng, chống tham những; Tổ chức các hình thức động viên, khuyến khích các hội viên xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp để phòng ngừa tham nhũng.

Để góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 47/2007/NĐ-CP đã quy định các các biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Theo đó Doanh nghiệp áp dụng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng thông qua việc thực hiện cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước và người lao động trong doanh nghiệp; thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp; xây dựng và thực hiện các quy định về kiểm soát nội bộ nhằm phòng, chống tham nhũng; khuyến khích việc phát hiện, tố cáo các hành vi tham nhũng. Nghiêm cấm đưa hối lộ cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền dưới mọi hình thức. Doanh nghiệp ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp nhằm phòng ngừa tham nhũng, kịp thời phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các hành vi tham nhũng phát sinh trong nội bộ hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý.

Khi phát hiện có hành vi tham những thì doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi tham nhũng đó. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo kết quả xử lý cho doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề đó biết.

- Trách nhiệm cung cấp thông tin, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết vụ việc có dấu hiệu tham nhũng: Khi nhận được yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm cung cấp thông tin mà mình có được về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, đồng thời áp dựng các biện pháp cần thiết trong phạm vi quyền và trách nhiệm của mình để phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xác minh, làm rõ vụ việc tham nhũng, người có hành vi tham nhũng. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin cho doanh nghiệp, áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, góp phần phòng, chống tham nhũng.

Thông qua thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh nếu thấy có những điểm bất cập, sơ hở trong cơ chế, chính sách thì doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các văn bản pháp luật không phù hợp, làm phát sinh tham nhũng, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả công tác đấu tranh chống tham nhũng. Bên cạnh đó, để góp phần cũng các cơ quan nhà nước đấu tranh chống tham nhũng, Nghị định 47/2007/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – đại diện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

4.4. Trách nhiệm Ban Thanh tra nhân dân, của công dân trong phòng, chống tham nhũng

4.4.1. Trách nhiệm của Ban Thanh tra nhân dân trong phòng, chống tham nhũng

Ban thanh tra nhân dân có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Là một tổ chức của quần chúng, Ban thanh tra nhân dân thực hiện vai trò giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị thông qua việc tiếp nhận các ý kiến phản ánh của cán bộ, công nhân, viên chức, thu thập thông tin, tài liệu để xem xét, theo dõi cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tại cơ sở. Trong xu thế hội nhập của đất nước ta hiện nay, quyền dân chủ ngày càng được mở rộng, phát huy tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị thì vai trò của Ban thanh tra nhân dân cùng các thiết chế xã hội ngày càng giữ vị trí quan trọng. Với vai trò to lớn của mình, Ban thanh tra nhân dân đã được thành lập rộng khắp cả nước, ở các xã, phường, thị trấn và tại các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước.

Nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Ban thanh tra nhân dân và thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, Luật quy định: Ban thanh tra nhân dân tại xã, phường, thị trấn, trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Điều 88).

Nghị định số 47/2007/NĐ-CP quy định Ban thanh tra nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham những ở xã, phường, thị trấn và ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước. Khi cần thiết, Ban thanh tra nhân dân được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước giao cho xác minh những vụ việc nhất định. Khi cần thiết, cơ quan nhà nước có trách nhiệm mời đại diện Ban thanh tra nhân dân tham gia giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở xã, phường, thị trấn, ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước. Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm cung cấp thông tin, cử người tham gia khi được yêu cầu.

Việc giám sát của Ban thanh tra nhân dân thông qua các công việc cụ thể sau:

- Tiếp nhận các ý kiến phản ánh của nhân dân, cán bộ, người lao động về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; trực tiếp thu thập các thông tin, tài liệu trong việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước.

- Phát hiện hành vi tham nhũng, vụ việc tham nhũng của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước.

- Trực tiếp hoặc thông qua Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn, Ban chấp hành công đoàn cơ sở kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, hành vi tham nhũng và giám sát việc giải quyết đó.

Để tạo điều kiện cho Ban thanh tra nhân dân phát huy vai trò của mình, Nghị định quy định trong quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Ban Thanh tra nhân dân có quyền đề nghị Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến việc giám sát. Trường hợp phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham những, người có hành vi tham nhũng thì Ban Thanh tra nhân dân kiến nghị Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Trong thời hạn mười lăm (15) ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho Ban Thanh tra nhân dân. Trường hợp kiến nghị không được xem xét, giải quyết hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ban Thanh tra nhân dân có quyền kiến nghị Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh hoặc kiến nghị cấp trên trực tiếp của Người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác xem xét, giải quyết.

4.4.2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Công dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, thực hiện việc giám sát các mặt của đời sống xã hội, trong đó có tổ chức và hoạt động của các cơ quan cong quyền, của cán bộ, công chức. Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của người dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực luôn được coi là một trong biện pháp cơ bản. Trong đấu tranh chống tham nhũng, cần lấy người dân và xã hội công dân làm trung tâm, phát huy sức mạnh cộng đồng trong phản biện, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Làm cho người dân nhận thức được đấu tranh chống tham nhũng là trách nhiệm của công dân của bản thân mình. Nhận thức được điều này, vai trò và trách nhiệm của người dân trong phòng, chống tham nhũng đã được thể chế hoá trong các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng; có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng (Điều 6).

Hình thức tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng: Công dân tự mình, thông qua Ban thanh tra nhân dân hoặc thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia phòng, chống tham nhũng (Điều 88).

Nghị định số 47/2007/NĐ-CP cũng quy trách nhiệm của công dân tham gia phòng, chống tham nhũng: Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về phòng, chống tham nhũng; lên án, đấu tranh với những người có hành vi tham nhũng; phản ánh với Ban thanh tra nhân dân, tổ chức mà mình là thành viên về hành vi tham nhũng, vụ việc tham nhũng để Ban thanh tra nhân dân, tổ chức đó kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xác minh vụ việc tham nhũng khi được yêu cầu. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về phòng, chống tham nhũng; góp ý kiến với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

5. Quản lí nhà nước về phòng chống tham nhũng

5.1. Xây dựng thể chế phòng, chống tham nhũng

Nhiệm vụ này chủ yếu do Thanh tra Chính phủ thực hiện với những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

Trình Chính phủ Dự thảo Luật, Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Dự thảo Pháp lệnh, Dự thảo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; Dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ về phòng, chống tham nhũng theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Thanh tra Chính phủ đã được phê duyệt và các Dự án, Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác theo sự phân công của Chính phủ.

Trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, chương trình, kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm về phòng, chống tham nhũng; các Dự thảo Quyết định, Chỉ thị vả các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Ban hành Thông tư hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

5.2. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng

v  Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng

 Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Tại Điều 59 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước như sau: “1) Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng. 2) Khi phát hiện có hành vì tham nhũng, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông bảo cho cơ quan thanh tra, điều tra hoặc Viện kiếm sát có thẩm quyền. Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng”

v  Trách nhiệm này chủ yếu thuộc về các tổ chức thanh tra nhà nước và đây cũng là mảng hoạt động rõ nét nhất của công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng. Điều 76 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm: Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý.

- Nghị định 83/2012/NĐ-CP qui định Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm:Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chương trình, kếhoạch đã được phê duyệt về phòng, chống tham nhũng. Đồng thời Thanh tra Chính phủ cũng trực tiếp tiến hành thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện hành vi tham nhũng; đôn đốc việc xử lý người có hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý cán bộ của Đảng và Chính phủ.

- Ngày 12 tháng 5 năm 2009 vừa qua, Chính phủ đã ra Nghị quyết ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 trong đó có qui định: “Giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng giúp Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược”. Điều này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra cũng như vai trò của Thanh tra Chính phủ nói riêng và của ngành thanh tra nói chung trong công tác quản lý nhà nướcvề công tác thanh tra.

5.3. Xây dựng cơ chế thông tin phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng

v Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng

- Tiếp nhận, thống kê, tổng hợp, xử lý, lưu trữ các thông tin, dữ liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức, địa phương về tình hình phòng, chống tham nhũng;

- Bảo đảm sự trao đổi, cung cấp thông tin tài liệu thông suốt giữa các cơ quan có trách nhiệm trong công tác phòng, chống tham nhũng;

- Tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng.

v Cơ chế trao đổi thông tin giữa Thanh tra Chính phủ với Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội.

-  Việc trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu về công tác phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước phải bảo đảm nhanh chóng, chính xác, kịp thời.

-  Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước ban hành Thông tư liên tịch quy định về việc trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu giữa Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước.

- Thanh tra Chính phủ phối hợp với ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, cơ quan báo chí thường xuyêntrao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu về phòng, chống tham nhũng thông qua hoạt động của các tổ chức đó.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ các quy định chung, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, cơ quan báo chí ở địa phương trong việc trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.

v  Về công tác thông tin báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng

Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác phòng, chống tham nhũng là một nội dung hết sức quan trọng của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này và đã được cụ định cụ thể tại Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng.

5.4. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng

- Góp phần động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, chỉ có như vậy thì hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng mới được nâng cao.

- Thực hiện việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và trong các trường học. Việc đưa giáo dục phòng, chống tham nhũng vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đã được thực hiện từ nhiều năm nay và bước đầu đã thu được kết quả tích cực, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, tận tâm, công tâm, không tham nhũng.

5.5. Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng

- Hoạt động này sẽ tạo điều kiện để chúng ta có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, phối hợp các nỗ lực chung trong việc ngăn chặn quốc nạn tham nhũng đang ngày càng làn rộng trên bình diện quốc tế. Hợp tác quốc tế cũng sẽ tạo cơ hội để chúng ta tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước và các tổ chức quốc tế, tạo thêm nguồn lực để củng cố và phát triển các thiết chế, các giải pháp phòng, chống tham nhũng mà chúng ta đang tiến hành.

- Những năm qua hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng đã phát triển mạnh mẽ và Thanh tra Chính phủ đã thể hiện được vai trò quản lý nhà nước của mình trong lĩnh vực này.

- Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, chúng ta đã giành được thêm nhiều sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự phối hợp chặt chẽ của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.

5.6. Tổng kết kinh nghiệm, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về phòng, chống tham nhũng

- Việc tổng kết kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng cũng cho phép đánh giá được hiệu quả hoạt động của các cơ quan có chức năng đấu tranh chống tham nhũng cũng như hiệu quả của sự phối hợp giữa các cơ quan này; đánh giá hiệu quả mối quan hệ phối họp giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức đoàn thể quần chúng trong phòng, chống tham nhũng; đánh giá hiệu quả hợp tác quốc tể trong phòng, chống tham nhũng...

- Về công tác nghiên cứu khoa học về phòng, chống tham nhũng: Công tác nghiên cứu khoa học sẽ hướng vào việc luận giải các vấn đề đang đặt ra trong phòng, chống tham nhũng, vừa tổng kết thực tiễn, vừa đánh giá, nhận xét dưới góc độ lý luận, là cơ sở vững chắc cho việc hoạch định các cơ chế chính sách trong phòng, chống tham nhũng.

6.     Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng

Chương VII gồm 02 Điều 89 và Điều 90, quy định nguyên tắc chung về hợp tác quốc tế; trách nhiệm thực hiện hợp tác quốc tế của các cơ quan có thẩm quyền.

Vấn đề hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng là cần thiết, Luật quy định:

6.1. Về nguyên tắc chung trong hợp tác quốc tế(Điều 89)

Nhà nước cam kết thực hiện điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống tham nhũng trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi.

6.2. Trách nhiệm thực hiện hợp tác quốc tế

- Đối với hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, xây dựng chính sách…, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan hữu quan thực hiện, theo đó, Luật quy định:

Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan hữu quan thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, xây dựng chính sách, trao đổi thông tin, hỗ trợ tài chính, trợ giúp kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm trong phòng, chống tham nhũng (Điều 90).

- Đối với hoạt động hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong phòng, chống tham nhũng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an thực hiện, theo đó Luật quy định:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong phòng, chống tham nhũng (Điều 90).



[1]Điều 37. Những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm

1. Cán bộ, công chức, viên chức không được làm những việc sau đây:

a) Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;

b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;

d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

đ) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.

2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.

5. Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.

6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;

b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.

Văn Phòng Sở 

 

TIN ĐÃ ĐƯA
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ - ĐỒNG NAI

Giấy phép số: 160/GP-BC do Cục báo chí Bộ VHTT cấp ngày 15/6/2006.
Chịu trách nhiệm chính: Thạc sĩ Hồ Văn Hà - Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: số 2 Nguyễn Văn Trị - Thanh Bình - Biên Hoà - Đồng Nai
ĐT: 0251.3822505 - Fax: 0251.3941718. - Email: skhdt@dongnai.gov.vn